TRƯƠNG ĐỨC VĨ NHẬT
Truyện ngắn dự thi 1993
Tôi đứng tựa vào lan can, hành lang bệnh viện vắng tanh, thỉnh thoảng những bóng áo trắng hiện lờ mờ trên những ô cửa kính đối diện. Hồ nước phía dưới lầu hắt lên một màu đỏ bàng hoàng. Một tiếng chim cất lên chợt tắt lịm.
Ba tôi ốm suốt từ bốn tháng nay. Những ngày ba tôi còn khỏe mạnh, chiều chiều, hai cha con thường ngắm cảnh thành phố ngập trong ráng đỏ. Thời gian đó tuy chưa xa là bao, nhưng bây giờ đã khác nhiều. Tôi chợt nhớ những chiều ba tôi đi làm về thường lên sân thượng ngắm những nóc nhà lưa thưa, thấp thoáng, những lùm cây rậm rạp quanh nhà và chân núi đằng sau lưng nhà tôi đang nhuốm bụi đỏ. Còn tôi đứng dưới sân nhà ngước nhìn ba tôi bên cạnh những chậu cây cảnh không được cắt xén cẩn thận, mọc xùm xòa lan ra cả nền sân thượng.
Chẳng biết đến bao giờ ba tôi mới đủ sức gượng dậy? Trận ốm ập đến bất ngờ làm ba tôi suy sụp hẳn. Mỗi lúc ba tôi nói, bộ ngực phập phồng một cách khó nhọc. Tôi thì còn vụng về trong việc chăm sóc người bệnh. Ba tôi vào bệnh viện giữa mùa hạ, bây giờ đã gần cuối thu. Căn phòng bệnh sáng trắng, buổi sáng ngập ánh nắng, buổi chiều tối lại chìm trong màu đỏ mờ của những đám mây hồng. Mỗi buổi sáng vào bệnh viện, tôi đều mang theo những chùm lá cam, lá chanh cắm ở đầu giường. Ba tôi thích mùi hăng hăng dễ chịu của chúng. Có lẽ ba tôi nghĩ mình đang khỏe mạnh lúc thấy trên đầu cắm đầy những lá cây xanh tươi. Ba tôi thường nhìn tôi cười cười, quai hàm đầy râu rậm khẽ động đậy và bứt những ngọn lá đưa lên mũi, có lúc nhấm nháp chúng rồi nhả xuống sàn. Tôi cẩn thận lùa chúng vào sọt rác. Ba tôi hay vắt nước cam vào lá và đưa lên miệng mút như một đứa bé. Đôi lúc, tôi chợt nghĩ biết đâu ba tôi không ngồi dậy được nữa và khi chải tóc cho ba tôi, tôi cứ bần thần với ý nghĩ ấy.
Ba tôi vốn không thích những tiếng chim rộn rã, chỉ những lúc cảnh vật hoàn toàn yên tĩnh, một tiếng chim chợt cất lên lanh lảnh điểm xuyết mới khiến ba tôi rung động. Tôi biết được điều đó là do nhiều lần ba tôi đã tâm sự với tôi. Tôi trông đợi tiếng chim nên suốt ngày tôi cứ mở cửa sổ, chỉ lúc nào nắng chiếu thẳng vào giường, ba tôi mới bảo khép hờ lại, một luồng nắng hẹp vẫn vắt ngang cuối giường.
Dẫu sao cũng thật may mắn khi ba tôi được nằm trong phòng nầy, căn phòng hơi hẹp nhưng bù lại có cửa sổ thoáng và không ồn ào, lại có nắng ấm và nghe được sương rơi trên cành cây sát cửa sổ.
Tôi lững thững bước vào ngồi xuống giường ngắm tháp chuông nhà thờ cao vút. Miên man suy nghĩ, tôi thoáng nhận một luồng hơi nóng phả vào gáy - ba tôi gượng dậy nhìn theo hướng mắt tôi. Tôi quay lại nói với ông: "Ba nằm xuống đi". Ba tôi lại gượng nằm xuống nhìn tôi. Đôi mắt của ba tôi sâu hoắm, tròng mắt đục mờ. Ba tôi ngày càng gầy yếu, không thể tự cầm sách đọc. Mỗi lần đến bệnh viện, tôi thường đọc sách cho ba tôi nghe. Có những đoạn đã thuộc lòng nhưng ba tôi vẫn bảo tôi đọc lại. Ba tôi thường nằm xoay người, ngực phập phồng, gối kê cao. Khi tôi đọc, ông chăm chăm nhìn tôi, thỉnh thoảng lại bảo: "Con đọc to hơn chút nữa".
Hai ngày nay, thậm chí đôi lúc ba tôi không cầm nổi thìa. Ông thích tự ăn, nhưng mỗi Iần cầm thìa, tay run bần bật khiến thức ăn đổ tung tóe. Những lúc đó, ông thường im lặng nhìn tôi như muốn thanh minh.
…Tôi từ bệnh viện về và bắt gặp mẹ tôi đang thẫn thờ nhìn ra cửa, tôi linh cảm một chuyện chẳng lành. Mẹ tôi lảng tránh ánh mắt tôi.
- Gì thế mẹ? tôi cố nén một nỗi lo sợ mơ hồ đang làm tôi nghẹt thở. Mẹ tôi chợt ngẩng lên, nhìn tôi và khẽ lắc đầu.
- Gì thế mẹ? tôi láy lại và cảm nhận một điều gì đó đang kề cận.
- Ba không qua khỏi đâu con! Tốt nhất là không nên cho ba biết. Sự hồi hộp và nỗi sợ chợt tiêu tan, tôi chợt nhận thấy mình đang đứng trong một thế giới xa xăm.
Đêm ấy mẹ tôi lên bệnh viện.
Nửa đêm tôi tỉnh giấc và chợt thấy lạnh. Mẹ tôi ở bệnh viện về từ lúc nào tôi cũng chẳng rõ. Bà đang nằm trên giường, đầu ngoẹo xuống gối, ánh đèn ngủ chiếu mờ làn chăn phập phồng.
Căn phòng mang một vẻ ấm cúng bình an khiến nước mắt tôi trào ra. Bộ quần áo ngủ từ ngày ba tôi ngã bệnh vẫn mắc ở cánh cửa tủ, ánh đèn vàng chập chờn, những ngọn gió đêm lay động như ba tôi đang đứng ở đấy.
Tôi chợt giật mình nhớ ra ba tôi đang ở bệnh viện một mình. Biết đâu cái điều khủng khiếp ấy không xảy ra ngay trong đêm nay? Cái ý nghĩ ấy làm tôi lạnh cứng cả người.
Chiếc đồng hồ dạ quang cứ chạy đều đều. Tôi co rúm người trong chăn. Ba tôi có biết rằng cái chết đang rình rập ông? Một ngày, một tuần, một tháng nữa, ai biết được? Thế là tôi đang mang trong mình một bí mật kinh hoàng: "Tốt nhất là đừng nói với ba". Một nơi xa xôi nào đó trong tôi lại thôi thúc tôi. Chẳng lẽ ba tôi lại không được quyền biết cái chết đang tiến sát mình? Sự im lặng của tôi hóa ra là sự lừa dối tinh tế?
Tảng sáng, tôi lên bệnh viện. Ba tôi vẫn cười như mọi lần, còn tôi đứng bối rối. Trời cuối thu, bắt đầu những cơn gió lạnh.
Tránh ánh mắt ba tôi, tôi nhìn vào thành giường, nó đã xỉn lại vì mồ hôi, trên gối ba tôi lấm tấm bụi gàu, mái tóc ba tôi bạc bóng.
Tôi ngồi xuống cạnh giường lau mặt cho ba tôi, những miếng da nhỏ trên mũi chợt bung ra từng mảng.
Tôi cứ lau mãi khiến mũi của ba tôi đỏ ủng lên. Ba tôi cười, hỏi khe khẽ: "Con làm sao thế?" Tôi bối rối nhúng khăn vào chậu nước. Ba tôi nói, vẻ bông đùa: "Thôi được rồi! Chắc con vừa gặp một tiếng sét?" Tôi chợt thót tim nhưng lại kịp thời nhận ra ba tôi chẳng có ngụ ý gì đặc biệt, nhưng đồng thời vẻ bông đùa đó lại khiến tôi buồn vô hạn và tôi cay đắng nghĩ chẳng còn bao lâu nữa. Trong lúc bần thần với ý nghĩ đó, tự nhiên tôi buột miệng: "Vâng ạ!" "Thật hả?", ba tôi vui hẳn lên. Niềm vui của ông một lần nữa làm tôi bứt rứt.
Nhưng mặt khác, tôi lại không thể cắt nghĩa được một cách rõ rệt rằng sự giấu giếm tinh tế kia là một tội lỗi hay là một sự yêu thương quá mức.
Ba tôi lại bảo tôi đọc sách. Ông muốn nghe giọng đọc của tôi. Căn phòng hẹp, dù tôi đọc rất khẽ vẫn nghe tiếng đọc vang, dội lại từ vách tường.
Trời cuối thu, nền trời rải rác những đám mây xám bạc, cắt vụn. Ba tôi ngày càng gầy đi, cành cây bên cửa sổ đã rụng lá.
Ba tôi vẫn vui như mọi ngày, nhưng ông cười rất khó nhọc. Tuy vậy, một lần, đột nhiên ba tôi lại như khỏe ra và ông kể cho tôi nghe những mẩu chuyện vui vui mang đầy hơi thở của cuộc sống.
Mỗi lần ba tôi kể về cuộc sống, kể về cảnh vật xung quanh với hơi thở nặng nhọc đồng thời với một niềm tin vô hạn là một lần tôi xót xa đến tận tâm can. Theo giọng kể của ba tôi, những chiều mùa hạ, những nhành lá, những ngọn gió đêm, những cánh bướm lạc vào phòng, chập chờn trong bụi phấn lả tả. Tất cả những gì hiện thân cho cuộc sống đều khiến tôi bàng hoàng. Chẳng lẽ con người sinh ra chỉ để kết thúc bằng cái chết? Tôi thường xuyên cố nén sự bàng hoàng khủng khiếp ấy, nhưng lúc nào nó cũng chực bật ra. Tôi không muốn ba tôi mất đi những nụ cười, những tình cảm thiết tha với cuộc sống, nhưng mặt khác sự bất nhẫn của việc dối trá lại thôi thúc tôi mãnh liệt.
Tôi chăm sóc ba tôi với tất cả sự tận tụy, những lời tôi nói với ba tôi đều xuất phát từ những rung cảm tha thiết của kỷ niệm.
Những buổi sáng sương giăng đầy, ba tôi thường hướng ra cửa sổ. Hơi thở ấm áp của cuộc sống cứ ùa vào. Ba tôi vẫn cười như thường lệ, nhìn làn ngực của ông, tôi có cảm giác như nó đang căng lên để hút lấy sự sống tràn trề ấy. Tôi nghe như có một tiếng trầm ngâm: Giá như ba khỏe mạnh! Những lúc đó, cái điều bí mật hoảng loạn kia được giữ rịt lại trong tôi. Và cái tiếng thầm thì, khe khẽ, trầm ngâm kia xoáy vào tôi từ từ như mũi dùi nung đỏ. Tiếng thầm thì đó vọng từ đâu đến?
Từ những giọt sương mai, từ những đám lá sũng nước, từ những vành trăng thu, mảnh mai như chân mày cong vút của thiếu nữ, từ lồng ngực ba tôi hay từ trong tôi?
Làm sao cho ba tôi được thanh thản trong những ngày cuối đời? Có phải chính niềm ham mê cháy bỏng với cuộc sống có thể níu kéo cái chết? Tôi mơ hồ nhận ra rằng, chính vẻ xinh tươi của cảnh vật tràn nhựa sống đã ngày càng nhanh đẩy ba tôi phát hiện sự lụi tàn của chính mình...
Một hôm, tôi đang đọc sách cho ba tôi nghe, ba tôi nằm gác tay lên đùi tôi và nhìn tôi không chớp mắt. Tôi cố gắng tập trung vào trang sách, nhưng những ý nghĩ lơ mơ cứ lượn lờ, khiến tôi không sao đọc rành mạch được.
Ba tôi bảo: "Chắc con thức khuya quá đấy, để ba đọc cũng được. Hôm nay ba thấy khỏe". Ba tôi cố đưa tay lên với lấy cuốn sách, những ngón tay run run. Tôi đặt sách xuống và cảm thấy lòng mình quặn lại, cái cảm giác hối hận âm ỉ được nén lâu nay bỗng bật dậy.
Tuy thế, bản năng kiềm chế đã giữ tôi lại trong trạng thái dường như bình thản, đồng thời ở đâu đó trong vô thức chợt hiện ra tiếng trầm trầm buồn vô tận của bài ca vĩnh biệt dân giã của những người đào huyệt, tiếng những hòn đất đầu tiên rơi trên nắp quan tài. Bức tường của căn phòng mờ đi và tôi hình dung rõ rệt một con đường cỏ đẫm sương dẫn tới chân núi, những bông hoa dại trên đường nở rải rác...
Hôm sau, lúc tôi ngồi đọc sách cạnh giường, ba tôi vừa ôm lấy chân tôi, vừa bảo: “Tuần sau ba sẽ xuất viện”.
Giọng nói vui mừng quá đỗi của ba tôi làm lòng tôi tan nát. Và chính cái thời điểm đó, cái thời điểm mọi sự cố gắng đã rã rời, bản năng trong tôi bỗng bùng lên đột ngột: "Ba, bác sĩ bảo ba không thể qua khỏi" - Tôi thốt lên khe khẽ nhưng rành mạch, rành mạch đến nỗi sau này mỗi lần nhớ lại tôi vẫn còn ngạc nhiên.
"Cuối cùng con cũng biết điều đó?" - Ba tôi hỏi lại đầy kinh ngạc và nhìn tôi chằm chằm như nhìn một người xa lạ. Tôi sửng sốt, đồng thời lập tức nhận ra rằng ba tôi hiểu điều đó còn hơn cả tôi. Phút chốc, tâm trí tôi bừng lên ý nghĩ, hẳn ba tôi cũng mang trong mình sự kiềm chế mà cả tôi và mẹ tôi đã từng kiềm chế, chính nỗi kiềm chế ấy cũng đang đè nặng lên những ngày cuối cùng của ông, chính nó từng day dứt trong mỗi hơi thở nặng nhọc của ba tôi. Hóa ra, những nụ cười của ba tôi thường ngày, những rung cảm với cảnh vật xung quanh, những phút chăm chú lắng nghe tiếng mưa rơi trên lá... đều xuất phát từ những suy tư tạo ra một thế giới vui tươi cho người thân. Hóa ra, ba tôi đã cố gắng kỳ cùng để tạo ra một sự lạc quan nhằm gạt bớt những nỗi đau của tôi lúc thấy ba tôi đang lụi tàn trên giường bệnh từng ngày một. Nhưng ba tôi có thể không nghĩ rằng làm sao có thể xoá đi những hoài niệm tha thiết của cuộc sống, những buổi chiều bầu trời vương ráng đỏ, một tiếng chim hót lảnh lót... Thế giới đó cứ mỗi lần tôi nhớ đến vẫn bùng lên một nỗi khát khao, mãnh liệt, da diết và rất đỗi xa xăm. Tôi ý thức rõ rệt rằng con người chẳng lúc nào hưởng được cái chết hoàn toàn không gây đau khổ cho người khác. Phải chăng những ngày cuối đời ba tôi đã nén những nỗi đau cả thể xác lẫn tinh thần để làm vợi đi nỗi đau của những người thân, hay xuất phát từ nó để tạo ra cái chết thanh thản cho chính mình?
* * *
Ba tôi ra đi vào một ngày cuối thu.
Đám tang chậm rãi đi qua con đường cỏ đẫm nước dẫn đến chân núi.
Trời mưa phùn, hơi lạnh thấm dần, những nén hương đã tắt ngấm, nấm mộ đầy những vòng hoa lạnh. Mưa tí tách nhỏ từ cộng ô đến chân tôi. Những người dự đám tang đã ra về, tôi một mình đứng lặng bên nấm mộ, và hướng mắt nhìn con đường cỏ đẫm nước, con đường mà một phần nhân loại đi qua.
Huế, 20-11-1993
T.Đ.V.N
(TCSH61/03-1994)