Truyện ngắn
Loài linh điểu cuối cùng
08:42 | 22/04/2026

TRẦN VĂN THIÊN

“Anh không thuộc về đám đông. Mãi mãi anh không thuộc về đám đông. Nàng từng nói với anh như vậy, trong lúc đun nóng rượu hoa trên ngọn lửa liu riu.

Loài linh điểu cuối cùng
Minh họa: PHAN THANH BÌNH

Bình rượu hoa nàng đã giữ từ rất lâu, anh chẳng biết bằng cách nào nàng có được nó. Đó là một bình rượu quý, được chưng cất bằng ký ức, nàng thì thầm bảo. Khi nàng đun nóng trên ngọn lửa vừa đủ, hương rượu loang ra tựa chiêm bao giăng lên cả gian phòng. Có lẽ hôm ấy là một ngày đặc biệt, nên nàng muốn để lại trong anh chút dư ba tròng trành những giọt rượu hoa ngọt đắng. Nhưng thứ luôn gợi anh nhớ về buổi chiều hôm ấy lại là cái màu đỏ thẫm của rượu. Bầu trời bên ngoài ô cửa kính cũng tuyền một màu đỏ. Rờ rỡ. Ngập ngụa. Rồi phai dần, loãng dần, thành màu chiếc váy lụa nàng phơi vắt vẻo ở hiên sau.

Những giọt rượu màu mận đỏ giờ đây rơi xuống trí nhớ anh. Hệt như màu chiếc lông vũ trên đỉnh đầu của một loài linh điểu, ngự trên đỉnh núi tuyết gió lạnh tựa móng vuốt cào xước qua da thịt.

Ấy là buổi chiều cuối cùng trước ngày anh rời khỏi thung lũng. Anh đi tìm mười hai loài linh điểu đang ẩn trú đâu đó trong cõi nhân gian này. Mười hai chiếc lông vũ sẽ được nàng thêu lên mảnh áo lụa nàng mặc vào ngày lên xe hoa. Đó là một ngày trọng đại của đời người con gái, nàng muốn ngàn con mắt thế gian phải ngước nhìn thảng thốt và ước vọng. Tương truyền những chiếc lông vũ của loài linh điểu sẽ phát sáng khi chạm vào da thịt con gái trinh nguyên. Bộ cánh của nàng sẽ lấp lánh đầy diễm lệ trong ngày pháo hoa vang ngút trời. Cả thung lũng sương lam phải chênh chao bởi vẻ đẹp của nàng. Gió phải thẹn thùng ngừng thổi trên những triền hoa cô nhãn trắng xóa. Đó là ước mơ của mọi thiếu nữ đến tuổi cập kê, eo thon dáng ngà. Thế nên mắt nàng luôn ngân ngấn những đợi chờ, những hoài vọng từ anh. Đôi khi còn như là khẩn thiết.”

Y cầm trang giấy chi chít chữ, đọc thành tiếng. Con vẹt đứng trước mặt y nghiêng đầu sang một bên, im lặng. Có lẽ nó đang cố hiểu những dòng y viết, hoặc suy tư về một vùng trời lạ, hoặc giả vờ chăm chú lắng nghe. Mắt nó lim dim, đôi khi gật gù, dường như đã quá quen với tư thế, cảnh huống này, với giọng đọc ngẫu hứng từ y. Con vẹt bao giờ cũng là độc giả đầu tiên của những trang bản thảo mà y viết. Mỗi khi y đọc to, kéo dài từng câu, từng đoạn, hoặc ngồi cạnh, sát mặt vào thầm thì, con vẹt chỉ nghe và khép cánh, trầm ngâm. Bộ lông màu xanh ngọc, mịn như rêu, cái mỏ cong tựa mảnh trăng non ai cắt làm đôi, chỉ giữ lại phần dưới. Dải lông đỏ hình thoi tựa vệt màu loang từ chấm mũi lên đến đỉnh đầu, có thể tượng trưng cho điều gì đó của loài lông vũ mà y chưa thể nắm bắt.

Chỉ có con vẹt đi cùng y ra hòn đảo này.

Y sẽ ở lại đây 23 ngày, sống một đời sống khác. Những tiếng nói bên trong y đã chọn hòn đảo này để thử giọng. Có gì đó vô hình thôi thúc bước chân y. Những con chữ muốn cởi trói mình ra khỏi bao sống sượng, rạc rài, vô nghĩa. Ấy là lúc y còn quanh quẩn ở thành phố. Một nỗi tù túng dần đẩy y vào vực thẳm, hệt những cánh tay dài bấu chặt, cuộn xiết lấy y không lối thoát. Hòn đảo này đã hiện ra trong giấc mơ y vào một đêm tối trời. Thời gian là thứ phù du. 23 ngày sẽ hóa thành cả kiếp người nếu như y không tìm thấy một con đường. Có xiềng xích nào đang vây hãm lấy y khỏi ước mong được giải thoát? Y không muốn những con chữ bị cầm tù trong một nỗi chán ngán dường như vô tận. Khi còn ở thành phố, y đã ngửi thấy mùi phân rã từ chữ của mình. Mùi của sự mắc kẹt. Mùi xa lạ, lạc loài. Mùi ngái nồng, khô khốc, như lớp vỏ bóc ra từ những thân cây già cỗi mùa hạn, đang hiến dâng cho cuộc thanh trừng của trời đất. Chúng cần một cuộc thiên di. Cuộc thiên di của chữ. Y không muốn mỗi sáng thức dậy trong vô định, thấy đám chữ lần lượt rời đi và biến mất. Những cơn gió lạ ở hòn đảo này sẽ mang mùi lưu cữu của chúng bay xa. Nắng sẽ hong khô những mảng rêu sần sùi mọc lên từ chữ. Y biết chúng luôn thúc giục y về một nơi chốn mới để sinh ra, về những cánh rừng, những dòng sông, những con đường hát khúc tráng ca của niềm cô độc.

*

“Những người già chỉ tay về hướng bắc. Cứ đi theo hướng ấy, ở một nơi nào đó anh sẽ tìm thấy những loài linh điểu. Bóng thung lũng dần khuất sau lưng anh như một xứ sở bị thời gian lãng quên. Nàng ngồi bên gốc cô nhãn cổ thụ đợi anh trở về, đôi mắt viền bạc những cánh sương non. Anh rẽ bình minh đi về phía núi. Hình dáng linh điểu được anh phác họa trong đầu, bằng bao câu chuyện của người già trong thung lũng từ thuở anh còn là đứa trẻ. Chúng sau cùng có thể chỉ là ảo ngôn. Nhưng anh vẫn đi. Anh đi giữa lằn ranh đôi bờ hư thực. Anh đi qua những tẻ nhạt đời mình. Anh đi trên những con đường như sợi chỉ mảnh xuyên qua bao thung lũng, bao ngọn núi, bao ngôi làng bện kín cỏ cây và rập rờn chim chóc. Dừng lại ở mỗi ngôi làng, những người già lại vẽ vào anh nhiều hình dung khác về loài linh điểu. Có loài đầu chim, mình người, hai tay đã hóa thành đôi cánh. Cũng có loài chỉ nhỏ cỡ bàn tay con nít, nhưng có thể phát sáng giữa ánh trăng huyền hoặc. Và cũng có loài chỉ hiện hình duy nhất vào mùa giao hoan, khi hai linh thể kết đôi trong ba ngày cuối cùng của mùa hoa thạch quế…

Anh đến một am thất cũ ở lưng đồi quay mặt xuống miền cỏ cháy hoang vu. Am thất được bao bọc giữa những vạt rừng dập dìu, u tịch. Bầy gió được sinh ra từ khe núi thoảng một mùi thơm lạ thường của đá mùa khai hương. Đứng ở am thất nhìn về phía núi, từ ban mai đến chạng vạng, có thể nhận ra những vách đá luân phiên đổi màu từ đỏ trầm đến tím thẫm, rồi sau cùng sẽ chìm sâu vào màu của bóng đêm. Đá ở nơi này đang vào mùa khai hương. Chúng cùng tỏa một mùi hương liêu trai như thôi miên, như dẫn dụ bầy linh điểu về đây tắm hương, thay lông đổi cánh. Vị tu sĩ một mình sống trong am thất, nói với anh hãy nhẫn nại ở lại đây chờ đợi, không ai biết bầy linh điểu sẽ bay về khi nào. Đó là câu nói cuối cùng của vị tu sĩ có màu da bạc phếch, trước khi ông ngồi xuống bắt đầu mùa thiền định, chiếc bóng tan dần vào cõi hư không.

Anh căng lều ở chân núi và ngày ngày chờ đợi. Anh lang thang khắp nẻo rừng thiêng ngàn bóng cây đổ xuống. Anh chạy giữa bầy gió hoang lao đi vun vút về phía đồng cỏ khô. Mùi hương của đá ngày một nồng đậm dâng đầy cõi u minh, choáng ngợp từng dải rừng thoắt xanh, thoắt tím theo màu đá núi. Anh ngẩng đầu phóng mắt lên vòm rừng, chờ đợi bầy linh điểu vỗ cánh bay về giữa mùa thay lông vũ. Anh im lặng. Anh ca hát. Anh thét lên tiếng gọi bốn bề rừng thiêng. Anh nhớ sợi tóc nàng vương trên vai áo anh, nhớ lồng ngực nàng tràn căng ánh trăng xanh thung lũng. Nhưng chỉ có mùi hương của đá. Chỉ có những chiếc lá dài vẽ bóng tựa những lá bùa mê. Linh điểu ở đâu, linh điểu hãy bay về.”

Y ngồi giữa bóng đêm. Đêm trên đảo rỗng tuếch. Nghe lác đác tiếng cành mục rơi bên ngoài cửa kính, vô tình xé những sợi gió lạc mùa. Đêm thứ ba trên đảo. Y muốn những dòng chữ trước mặt vang thành tiếng nói, nhưng con vẹt dường như đã ngủ. Nó khép cánh im thinh, cuộn đầu sát cổ, chân trái nhấc lên co lại, dồn lực vào chân phải bấu chặt lên khúc cây, điêu luyện như một nghệ sĩ ballet ngủ say trong tư thế múa quen thuộc. Y vẫn tò mò về những giấc mơ của loài chim, nếu có. Những giấc ngủ nông. Những giấc ngủ sâu. Những giấc ngủ chồng lấp lên nhau trong tư thế phòng vệ. Chúng thường mơ gì khi đôi cánh đã khép lại, khi hạt ánh sáng đã vùi sâu vào đồng đêm thăm thẳm?

Dao từng bảo mọi thứ trên đời đều là giả thuyết. Sự tồn tại của những giấc mơ cũng là một giả thuyết. Nhưng Dao không muốn triết lý. Cả hai lúc ấy đang ngồi dưới một bầu trời đen đặc bóng chim bay. Lũ chim lạ không biết từ đâu kéo về giăng thành một tấm thảm khổng lồ che khắp cánh đồng. Ngàn vạn con không đếm xiết. Chúng che mất đôi mắt của bầu trời. Chúng rót đầy họng gió bằng tiếng kêu ánh ỏi. Chúng cùng nhau chao liệng trong vũ điệu bất tận, hệt như một nghi thức. Y bảo có thể đâu đó một điềm báo. Dao chỉ im lặng. Mắt Dao đăm đắm ngàn bóng chim đen. Đáy mắt như lòng giếng hoang ngày mặt trời đi vắng. Rồi Dao lẳng lặng để lại bóng mình bên cạnh y, vụt bay về phía vòm trời muôn cánh chim đen thẳm.

*

“Chiều nào anh cũng gặp một chàng tiều phu ở chân núi. Chàng tiều phu trẻ tuổi có dáng đi ẩn nhẫn, chẳng biết bước ra từ góc rừng nào nhưng thường gánh củi ngang qua túp lều của anh. Hai chiếc gióng chất đầy củi được cột chặt thành bó, cao quá đầu chàng tiều phu, nhưng cậu gánh nhẹ như không gánh. Cậu đi rất nhanh qua con đường mòn lót đầy lá khô và cỏ úa, rồi lẫn vào giấc xanh mê mị của rừng già mùa đá khai hương. Khi bắt gặp ánh nhìn của anh, cậu chỉ im lặng. Anh nhận ra trong đôi mắt cậu như phủ màu sương ở thung lũng nơi anh ra đi, vào độ cuối đông chuyển sang xuân thì, nhưng có lẽ cậu đã không để lộ điều gì, ngay cả một ánh mắt lạ lẫm. Suốt cả mùa đá khai hương, họ chỉ nhìn nhau trong những thoáng qua và không nói lời nào. Họ chào nhau bằng sự thinh lặng trong suốt. Vào khoảnh khắc nào đó, trong anh hiện hữu cảm giác hai người đã gặp nhau từ tiền kiếp, hoặc cậu từng để lại một tín vật thuộc về kiếp trước nhưng đã bị anh vô tình lãng quên. Cũng có thể chỉ là anh huyễn hoặc.

Anh ngồi trên một tảng đá xập xòe những đốm trăng xanh. Hương của đá thường tỏa đi đậm nhất vào thời khắc này. Trong anh bỗng dợn lên một linh cảm khác lạ, mạnh mẽ chưa từng có từ ngày anh trú lại ở nơi đây, hệt như dòng nước từ khe núi đang cuộn trào giữa lòng anh vô hồi. Bỗng rào rạt, rào rạt… bầy linh điểu bất ngờ bay về choáng ngợp cả khu rừng, những đôi cánh xòe ra tựa muôn vàn chiếc quạt trời mướt gió. Anh đứng dậy thảng thốt, một cảnh tượng kinh diễm hiếm có giữa trần đời đang diễn ra trước mặt. Bầy linh điểu bay như múa, tan rồi hợp, hợp rồi tan, thoắt hiện thoắt ẩn, xếp thành những vòng tròn đồng tâm quanh đỉnh núi. Những đôi cánh sải rộng, sà xuống thấp bỗng tung vút lên cao, vừa mềm mại vừa dứt khoát, rồi ghép thành từng cặp liệng chao, quấn quýt tựa những đôi nhân tình. Giọng hót bung biêng khắp cõi rừng, như làm chao động cả miền trăng xanh rót xuống chân núi. Lúc này, hương của đá đã nhấn ngập tất cả, mùi hương vẽ trong tâm trí người vô vàn mê cung. Rồi những phiến đá đồng loạt chuyển màu, sau cùng chỉ còn lại tuyền một màu trong suốt.

Cơn mưa lông vũ bắt đầu rơi. Những chiếc lông vũ pha trộn đủ màu, dài ngắn đan xen, đôi khi điểm xuyết nhiều dải họa tiết mơ hồ. Có những chiếc lông trắng buốt tựa bông tuyết mùa xuân. Có những chiếc lông dài thẳng tắp, nhuốm màu trầm tối lấm tấm cam vàng. Cũng có những chiếc uốn cong uyển chuyển, óng ánh màu lam loang vào sắc tím. Như thể mọi sắc màu trên thế gian đều đã được nhuộm hết vào cơn mưa lông vũ đang rơi xuống từ trời. Anh run rẩy khuỵu xuống. Cảnh tượng huy hoàng khiến anh chẳng còn nhận thức được mình phải làm gì. Những chiếc lông vũ cứ rơi trên vai anh, vương dưới chân anh, đậu sau lưng áo. Anh lẩy bẩy cúi nhặt một chiếc lông vũ, nhưng vừa chạm tay anh, nó bỗng vụt thoát tan biến.

*

Có một cánh chim nhỏ sà xuống tảng đá anh nằm ngủ quên từ đêm hôm qua. Dường như có cả tiếng bước chân nhẹ bẫng vừa đi khỏi. Anh mở mắt, thấy vị của sương mai còn nhân nhẩn trên môi. Bóng rừng xanh nghiêng xuống dịu vợi. Bầy linh điểu chỉ vừa ngang qua cõi chiêm bao. Vậy mà anh cứ ngỡ mình sẽ mãi ở lại giữa cơn mưa lông vũ ấy. Cùng lúc anh thoáng thấy một dáng người mảnh khảnh thoắt lẫn vào cây lá. Có phải là chàng tiều phu trẻ tuổi mới qua đây? Khẽ cử động bàn tay, anh nhận ra có ba chiếc lông vũ ai đã đặt vào tay mình. Ba chiếc khác nhau, nhưng lại mang dáng dấp hệt như những chiếc lông vũ của bầy linh điểu đêm qua. Có phải chúng vừa rơi ra từ trong cõi mộng? Anh quay về túp lều tìm chiếc hộp gỗ, cẩn thận đặt chúng vào trong.”

Y luôn có cảm giác xung quanh bàn viết của mình là những chiếc bóng. Đôi khi chúng nhảy múa theo nhịp chữ cuồn cuộn y viết như vừa được giải thoát. Đôi khi chúng bần thần nghiêng ngả, phờ phạc theo tiếng thở dài của y trước trang giấy trắng tinh. Những chiếc bóng của quá khứ bao trùm lên y, lẫn vào từng ý nghĩ như một thứ không thể chối bỏ. Dao nói đó chính là số phận. Số phận đã chọn y làm kẻ chăn bầy chữ không ngừng sinh ra và đòi được thành hình. Như cách số phận đã buộc đôi chân Dao phải phiêu bạt mọi phương trời để đi tìm ý nghĩa của đời sống này. Dao bảo kiếp trước Dao là một loài lông vũ. Kiếp này nếu không bay đi, có nghĩa là Dao đang tự giam mình vào một chiếc lồng. Dẫu cho nó có là chiếc lồng kiêu kỳ vàng son, thì những thứ bày ra xung quanh Dao luôn thừa mứa sự tẻ nhạt, bế tắc. Lần gần nhất y gặp Dao là vào rằm tháng Bảy, những người giàu trong thành phố thường rải tiền trước nhà để cúng bầy cô hồn. Nắm tiền được tung lên, những người nghèo chực chờ xung quanh bắt đầu nhốn nháo, giành giật nhặt lấy. Dao nhìn theo nắm tiền tựa bầy chim dáo dác giữa không trung, nhìn theo những bóng người như đám lá gầy lả tả trong gió, Dao nói đời sống này vốn dĩ được tạo nên từ những cách biệt, chỉ cái chạm tay mà rộng muôn trùng.

Một tuần, rồi hai tuần trôi qua, những con chữ hoàn toàn đi vắng. Con vẹt đã quen với hơi gió lờ lợ vị muối ở hòn đảo này, thỉnh thoảng lại bất ngờ cất lên tiếng nói: “Linh điểu! Linh điểu!”. Để con vẹt ở lại phòng, y thường một mình ra biển. Y thích ngắm mưa giăng trên mặt biển xám bạc. Lúc ấy, mặt biển như đang in bóng Dao nằm soãi dài lười nhác sau giấc ngủ ngày, bên tấm rèm trễ nải buông xuống. Y có thể nghe Dao đọc dăm câu thơ vừa vọng qua giấc ngủ. Những câu thơ không đầu không cuối. Đôi khi sự viết đi vào ngõ cụt, những cơn mộng mị sẽ đánh động trong y một gợi mở nào đó, và y sẽ tìm thấy cái ngách bí mật để bước qua trong chính giấc ngủ của mình.

*

“Anh đã đi quá xa thung lũng trắng xóa những triền hoa cô nhãn. Anh nhặt nhạnh, kiếm tìm từng chiếc lông vũ quý giá. Anh băng qua những triền núi cheo leo, những thung lũng u tối, những đầm lầy, châu thổ rậm rạp, những dòng sông nhìn không thấy bờ, những hoang mạc thốc đầy gió cát. Anh đã chứng kiến loài linh điểu múa gọi bạn tình trên đỉnh núi tuyết mùa xuân, đã mơ thấy mình cưỡi trên lưng một loài linh điểu đầu chim mình người, đã nằm uống sương, ăn gió bao ngày bao đêm chờ tới mùa chúng thay lông mới. Anh kháng cự lại cơn nhớ nàng, nhớ thung lũng triền miên. Anh gạt bỏ hết những truy vấn vô nghĩa, liệu tất cả có chỉ là phù phiếm. Đã bao nhiêu chân trời, bao nhiêu bóng người, bóng thú, cả bóng ma hoang lướt qua đời anh tựa cơn mộng mị. Tháng ngày trở nên vô tận. Anh gầy rộc, tay chân bắt đầu thanh mảnh, khuôn mặt như dài ra cùng mái tóc dần chuyển màu xanh khói. Đôi khi anh thấy thân thể mình nhẹ bẫng, nhiều ngày chỉ ăn quả dại, uống sương mai, bị cuốn hút bởi hương hoa nở, mùi trái chín. Cổ họng anh thi thoảng lại dấy lên cảm giác châm chích mơ hồ, như chực chờ điều gì khác lạ. Trong chiêm bao khôn cùng, anh thấy mình đang chao lượn cùng những loài linh điểu. Anh mê đắm, anh khao khát được tường tận vẻ đẹp hư thực, bí ẩn của cả mười hai loài linh điểu cõi nhân gian.

Đi hết một vòng bao la trời đất, một ngày kia anh ngỡ ngàng thấy thung lũng hoa cô nhãn hiện ra trước mặt. Bao nhiêu năm anh rời xa, thung lũng dường như vẫn vậy. Anh đã trở về rồi sao? Hoa cô nhãn im lìm trắng xóa. Nhưng trong chiếc hộp gỗ anh nâng niu như là báu vật, chỉ mới có mười một chiếc lông vũ. Vẫn còn thiếu một chiếc để nàng dệt lên dải áo lụa. Gốc cô nhãn ngày nàng đứng tiễn anh đi đã già như không thể già hơn, nhưng anh không thấy bóng nàng. Nàng có còn đợi anh không? Ước mơ của thời thiếu nữ liệu có biến tan thành hằng hà cát bụi?

Mơ mộng vời xa đã không thắng được bao hoài nghi vây bủa lòng người. Sẽ chẳng bao giờ có chiếc váy cưới nào óng ánh lông vũ phát sáng trên da thịt con gái trinh nguyên. Nàng đã lên xe hoa từ mấy mùa xuân trước. Nàng rời thung lũng sương lam để đến một vùng trời khác, với một chàng trai khác chẳng có chiếc lông vũ nào dệt lên váy nàng ngày cưới. Mơ mộng cũ hóa thành phù du.

Đêm trăng xanh. Anh ngồi trong rừng hoa cô nhãn, bên chiếc hộp gỗ đựng mười một chiếc lông vũ của những loài linh điểu khắp thế gian. Anh im lặng, bóng từng loài linh điểu vụt hiện ra trong đầu. Ranh giới giữa hữu hạn và vô hạn, giữa có nghĩa và vô nghĩa trở nên mong manh. Xung quanh anh chỉ một màu trắng không trộn lẫn. Cổ họng anh bắt đầu óc ách, rồi phát lên một tiếng kêu ngút trời. Thân thể anh tua tủa lông vũ, những chiếc móng dài ra, cong nhọn, hai tay xòe thành đôi cánh dập dờn. Anh ngửa cổ uống ngụm trăng thung lũng lần cuối, rồi vút bay lên, xuyên qua những tầng hoa cô nhãn nở như mê hoặc.

Một chiếc lông vũ trắng muốt từ đỉnh trời rơi vào chiếc hộp gỗ mở toang.”

Y muốn đọc những dòng cuối cho Dao nghe. Nhưng Dao chưa bao giờ nói khi nào mình trở lại. Hoặc có thể Dao đang đi tìm loài linh điểu của đời mình. Hôm nay là ngày thứ 23 trên đảo. Mưa vẫn giăng ngang mặt biển một cơn mơ xám bạc. Ánh nhìn của y hút sâu về phía chân trời. Con vẹt thỉnh thoảng lại kêu vang: “Linh điểu! Linh điểu!”.

Y chầm chậm thả những trang bản thảo vừa viết vào cơn mưa.

Một trận gió biển ào tới, những trang bản thảo bay lên tựa cánh chim trời, trước khi hòa vào cơn mưa bất tận.

T.V.T
(TCSH446/04-2026)

 

 

Các bài đã đăng
Lão sửa xe (23/03/2026)
Đường cỏ (12/03/2026)
Tìm mẹ (06/03/2026)
Quán sương (03/03/2026)
Mắt cá (06/02/2026)