Truyện ngắn
Bóng rừng
16:33 | 24/04/2026

VŨ NGỌC GIAO

Căn nhà ván ọp ẹp nằm trơ trọi dưới chân dốc Rú. Từ đỉnh dốc nhìn xuống, nó hiện ra như một cái chòi giữ dưa bị người ta bỏ quên sau mùa thu hoạch.

Bóng rừng
Minh họa: Đặng Mậu Tựu

Người đàn ông lầm lũi sống ở đó bao nhiêu năm chẳng ai còn nhớ, chỉ nhớ một buổi chiều nắng quái rát lưng, ông xuất hiện từ phía bên kia bờ phá với đôi gánh đầy nhóc gỗ ván. Lững thững vào làng, sau một hồi dạo quanh ngắm nghía từng mô đất, ông vác cuốc đi một hơi. Ba ngày sau người làng Đồng Ngâu đã thấy dưới chân dốc Rú mọc lên căn nhà nhỏ mái lợp lá nón.

Người đàn ông lừng lững trong bộ quần áo tơ tướp không che nổi nước da mai mái như người sốt rét kinh niên, cái cằm bạnh lầm lì chẳng mấy khi cười, ngày ngày ông lầm lũi đi đi về về. Mấy bà mấy cô có ra chợ, thả cái đòn gánh là ngửa nón ngồi, thôi thì thêu dệt đồn đoán đủ chuyện trên đời về người đàn ông lạ mặt.

Chiều tắt nắng. Mặt trời đột nhiên bị phủ mờ bởi một lớp mây sũng nước chắn ngang tiếp liền với rừng Mả Ngải. Ánh chiều xam xám trải rộng mênh mông gây ảo giác về mọi vật xung quanh. Đêm đến, gió từ phá Cồn Trăng vù vù thổi, tốc ngược mái nhà lên xơ xác, căn nhà nhỏ dưới chân dốc Rú rung bần bật. Người đàn ông trở mình thức giấc quờ quạng đốt điếu thuốc, ra hiên ngồi ngó mông lung. Đêm tối trời nhưng ông không muốn thắp đèn. Tiếng gió cựa vào cái nền thẫm đen của con đường đất trước nhà, hơi nước se se mát lạnh từ phá phả vào, phản chiếu những vì sao nhí nháy dưới tiết trời cuối xuân…

Ngoài phá đều đều vọng vọng mớ âm thanh hỗn độn: tiếng mái dầm cộc cộc gõ vào be thuyền, tiếng lưới sột soạt kéo qua mặt nước thẫm đen, tiếng cá quẫy lục sục trong thúng chai, lẫn trong đó nghe như có cả tiếng con nít khóc. Đêm hôm coi lưới tha con theo chi cho cực, ông lẩm bẩm dụi điếu thuốc còn hơn lóng tay xuống nền nhà, chống gối đứng lên…

Tiếng khóc non nớt cho ông biết đó là tiếng con nít nhưng không cách gì ông xác định được nó phát ra từ đâu. Khum khum bàn tay, ông lom lom nhìn vào màn đêm đen kịt. Coi bộ cũng chẳng thấy chi, ông quay vào khoác thêm tấm áo, bấm cây đèn pin lần dò ra ngoài. Trăng hắt qua kẽ lá những vệt sáng lốm đốm nhợt nhạt in chiếc bóng đơn độc chảy dài trên con đường rãnh trâu lúp xúp cỏ tranh dẫn về phía mé rừng. Gió bỗng đổi hướng, tiếng khóc cũng nhỏ dần rồi tắt ngấm như bị lấp vào đất. Từ xa có tiếng lá xô nhau sột soạt, tiếng cành khô răng rắc.

“Ai đó?” ông hỏi. Đáp lại chỉ có tiếng chim Từ quy vút lên một hồi dài lạnh lẽo. Ông cúi rạp người lần tay bẻ bớt từng cành khô. Trăng lẩn vào mây, hé ra một quầng sáng mỏng đủ để ông nhìn thấy dấu chân người còn tươi nguyên rồi nhạt dần trên đồi đất ướt. Tiếng khóc của đứa trẻ nghe đâu đó thật gần, có lúc ngằn ngặt như ai cấu nhéo nó. Ông lao về phía đó. Tiếng khóc lại trôi. Qua một mô đất đùn lên như tổ mối, từ chỗ này gió bỗng dịu lại, có lẽ bị chắn bởi nhiều cội cây. Ông theo hướng đó mà đi, vệt đèn pin lia vào bụi cỏ, hốc cây, rồi ngược trở ra… Có vẻ như biết bóng người đó đang tìm mình, đứa bé lại cất tiếng khóc như mèo kêu, ngắt quãng, rồi yếu dần.

Bên cội muồng già, một bọc nhỏ trăng trắng động đậy trên thảm lá ướt. Ông lia đèn lại gần. Một bé gái chừng hai tháng tuổi, tóc tơ bết dính vì sương đêm đang hí hóp thở từng cơn khó nhọc. Bao nhiêu năm lăn lộn chốn chợ đời, có lúc tưởng như chai sạn, vậy mà trước sinh linh bé bỏng này, đôi bàn tay ông cứ run lẩy bẩy. Ông cúi xuống lần giở từng lớp khăn đã ngấm nước lạnh ngắt. Giữa mênh mông bao la, ngỡ như Cồn Trăng, Mả Ngải cũng nín thở trước khoảnh khắc này. Trên cao, một vầng khói lam như dải khăn trắng quẩn quanh. Trong tay ông, sinh linh bé bỏng còn ấm nhưng mềm oặt như cọng bún thiu lạc mẹ, bàn tay nhỏ xíu co lại trước ngực. Một thoáng, ông nghe mùi sữa chua chua váng vất. Bản năng của người đàn ông khao khát được làm cha trỗi dậy, ông ấp đứa bé vào ngực, ủ nó trong lần áo. Bàn tay con bé khẽ cựa quậy. Lẽ nào số phận vừa đặt vào tay ông một đứa con? Giấc mơ được làm cha ngày nào quá xa vời, vậy mà đêm nay… Khe khẽ vỗ về con bé, mắt chợt chạm vào chiếc lược nằm dưới chân, ông cúi xuống nhặt lên. Đó là một chiếc lược bằng gỗ trầm hương, vài răng lược đã gãy, soi dưới ánh đèn lộ ra hình con chim cú mắt lóe lên trong bóng tối. Ông bỏ chiếc lược vào túi, ôm con bé dò dẫm đi về. Băng qua hai cánh đồng. Đến phá nước, ông dừng lại hổn hển thở, đứa bé trong tay ông vẫn ngủ say.

Hai cây đèn dầu cao được thắp lên sáng rực. Có bao nhiêu áo quần, mùng mền ông lấy ra ủ ấm cho con bé. Ngoài kia đêm dần về sáng, trong căn nhà nhỏ, ông vẫn ôm nó khư khư vào lòng. Trong vòng tay ông, con bé dần ấm lên. Nó cất tiếng khóc. Tiếng khóc con trẻ lần đầu cất lên trong căn nhà hiu quạnh khiến mắt ông cay xè như hột ớt vừa bay vô. Cho con bé uống chút nước đường, nó đỡ đói, yên tâm rúc đầu vô ngực ông thiu thiu ngủ. Ông ời ợi hát ru, tiếng ru vụng về già cỗi nghe buồn thiu nhưng con bé vẫn lăn ra ngủ. Lúc này ông mới bình tâm ngắm nó. Gương mặt có gì đó khác lạ, mong manh nửa thực nửa hư khiến ông không thể rời mắt, nó như được tạo hóa ưu ái hết phần thiên hạ. Con bé đẹp đến ngẩn ngơ. Làn môi hồng khẽ cong một nụ cười bí ẩn. Nhìn con bé ngủ, ông thấy như đang chứng kiến một thiên thần nhỏ vừa bước xuống từ mây. Ngặt nỗi, trên đôi mắt nó có đốm đen sẫm, thoạt nhìn như mắt con chim cú.

“Vậy rồi mai mốt cha mẹ mày có tiếc mà đến ẵm về hay không đây?” Ông thầm thì, thấy như nó nhoẻn miệng cười.

Ngoài kia gió len lỏi lùa qua khe. Trong căn nhà nhỏ, hơi ấm con trẻ phảng phất. Ông cúi xuống lắng nghe nhịp thở của con bé, tưởng như nó đang thở cùng ông. Qua cửa sổ, bóng trăng rơi nghiêng trên bóng ông và nó, sáng đến lạ lùng.

Người đàn ông đó là bác Cùng. Và đứa bé là chị Tiên.

*

Bác Cùng có họ hàng xa với bà nội tôi. Từ ngày về làng bác lầm lũi chẳng mấy khi xuất hiện chốn đông người. Ngoại trừ nội tôi, bác chẳng gần gũi ai. Dịp giỗ quảy trong xóm, ai nói cách gì bác cũng kiếm cớ thoái thác. Ngoài đan gùi bỏ cho chợ làng, bác còn có hai hecta keo lá tràm ở rừng Mả Ngải. Nghe đâu ngày trước bác Cùng có vợ, sau ngày cưới chưa tròn tháng, vợ bác bỏ đi biệt tăm, đến bộ quần áo cũng không đem theo. Từ ngày đó bác ở vậy, lầm lũi như cái bóng.

Từ nhà bác Cùng, cắt chéo một đường qua bên kia gặp phá Cồn Trăng, chỗ này ngó lên là rừng Mả Ngải. Nội tôi kể, hồi chiến tranh có toán người đi rừng, ở trên đó lâu ngày rồi sinh bệnh lạ, toàn thân nổi u nhọt mưng mủ. Từng người rải rác chết dưới gốc cây ngải cổ. Người làng thương tình đem chôn, còn cắm nắm ngải khô lên mộ để trấn. Lâu ngày, cây cối rậm rì, cỏ ngải mọc dày rồi mồ mả cũng chìm lút. Rừng chỉ còn nghe tiếng cú rúc như tiếng khóc than. Từ bao giờ, Mả Ngải cứ theo đó mà thành tên.

Mây chiều xám xịt loang kín phá Cồn Trăng tựa như những cuộn khói phụt lên. Nơi này đêm xuống ngập trong mùi rơm ẩm, mùi bùn lạnh váng vất hắt lên từ lòng phá. Mặt nước thẫm đen, bất động phản chiếu bờ lau lả ngả như bóng người chập chờn thoáng qua rồi chìm lỉm. Người Đồng Ngâu cứ chạng vạng chẳng ai dám qua đây. Con đường đất đỏ ngoằn ngoèo dẫn qua phá, mùa nắng nứt nẻ như lưng trâu phơi nắng nhưng mưa về lại nhoe nhoét bùn. Người làng Đồng Ngâu nói, xứ này đến mưa gió cũng chẳng giống ai, những cơn mưa ngâu không đợi mùa, cứ đột ngột trút xuống rồi tạnh ngay, để lại trên đường những dấu chân trâu sâu hoắm. Đều đặn mỗi chiều tôi lại băng qua cánh đồng, men theo con mương hướng về dốc Rú. Từ xa đã thấy chị Tiên đứng đợi. Trong bộ đồ hoa sạch sẽ tinh tươm, mái tóc dài óng ả thả hờ hững trên vai, nhìn chị lạc lõng giữa bốn bề cằn khô cỏ cháy. Người làng mỗi khi có việc qua dốc Rú thường lom lom nhìn vào nhà bác Cùng coi đứa con gái như tiểu thư đài các. Không ít lời ác ý gièm pha, nó là đứa con bị bỏ đi… Tụi con nít cũng chẳng vừa, cứ thoáng thấy bóng chị Tiên ở đâu chúng lại nhao lên “Tiên cú… Tiên cú xuống núi!”, cũng bởi hai cái bớt đen trên đôi mắt long lanh của chị.

Lên ba tuổi chị đã lon ton chạy ra đón cha mỗi khi ông lên rừng trở về, đôi bàn chân bé xíu lọt thỏm trong vết chân to bè in trên đất dốc. Chiều xuống, khi ánh mặt trời vỡ ra từng vạt đỏ sẫm, bác Cùng lại ngồi trước hiên, bế chị đặt lên lưng. Càng lớn chị càng khác lạ. Gương mặt hoang dã đẹp đến mức ai lướt qua cũng phải dừng, nhưng hai vết bớt đen trên mắt lại khiến vẻ đẹp hóa ra ám ảnh.

Phía bên kia dốc Rú là khu nghĩa địa. Vào mùa hè, tụi con nít làng Đồng Ngâu chiều nào cũng ra đó thả diều. Lần nào thấy tôi qua, chị Tiên cũng rủ ra chơi trốn tìm. Gì chứ chơi trốn tìm đố đứa nào trong làng tìm ra chị. Có hôm chị nấp sau mấy cái mả lớn, mát quá ngủ quên để tôi hoảng hốt đi tìm. Nơi này nhiều gió, giun dế và cỏ cây nên tụi con nít vào mùa hè thường rủ nhau ra ngủ. Ở đó tụi nó tha hồ được mơ sau một ngày cắt cỏ, lùa bò, mà chẳng sợ người lớn rầy la.

Đôi khi bác Cùng cũng xin nội cho tôi qua ngủ với chị Tiên. Tôi nằm nhìn ánh đèn dầu lúc mờ lúc tỏ, lúc âm u, hiu hắt, nghe những âm thanh lạ lùng từ dưới chân dốc Rú vọng vào. Tiếng gió hú từng cơn, tiếng mèo kêu như tiếng trẻ sơ sinh quấy khóc. Hai chị em đứng ngoài hiên ngóng ra cánh đồng đêm nhờ nhợ trăng, chẳng thấy gì ngoài những cội cây đen trũi. Đêm nào bác Cùng cũng phải hò hét, hai chị em mới chịu vào giường, nhưng chẳng chịu ngủ ngay, chỉ trùm mền rì rầm đủ thứ chuyện trên đời.

Chị Tiên sống lặng lẽ bên cha. Ngày ngày chị ngồi bên ngạch cửa cắm cúi thêu thùa. Không biết ai dạy chị, mà mỗi đường kim mũi chỉ cứ sống động như thật. Nhìn chị thêu con bướm, người ta thấy nó bay, thêu con chim, người ta nghe nó hót… Cũng bởi tụi con nít trong làng gọi chị là cú nên từ bao giờ chị thương loài chim cú. Với chị, tiếng kêu đêm của loài chim ấy không đáng sợ như người ta đồn, mà ngược lại nó êm và ngân như một khúc ca buồn.

Qua chơi với chị, tôi còn thuộc lòng thói quen của bác Cùng. Chiều nào bác cũng ra phá thả một con cá xuống để gửi ước vọng cho con. Sau nhà có giếng nước trong vắt, lần nào thấy tôi qua chị Tiên cũng rủ ra đó tắm. Chị thả gàu, hì hục kéo lên, gàu nước nặng trịch lên đến nơi đã vơi một nửa. Chúng tôi dội ào ào cho nhau rồi đuổi chạy vòng quanh giếng. Có đêm tôi giật mình choàng tỉnh, quờ tay qua không thấy chị đâu. Ngoài kia trăng đã treo tận đỉnh trời, lọt vài tia sáng qua kẽ vách, chiếu xuống nền đất những vệt sáng trắng ngà. Tôi ngồi dậy vén mùng rón rén bước ra. Từ bên ngoài, chị Tiên lững thững đi vào như người mộng du, mớ tóc rối ướt rượt bết lại nhỏ nước long tong. Chị ra giếng tắm, trên tay bộ quần áo vừa giặt còn sũng nước. Tôi lấy làm lạ, lúc chập tối hai chị em vừa tắm xong. Như hiểu ý tôi, chị chui vào giường thì thào, tại chị nghe từ phía rừng Mả Ngải có tiếng ai gọi tên chị.

*

Tiếng củi cháy nổ lép bép bên bếp, tàn lửa bay lên như những tia pháo sáng. Đêm mịt mùng. Sâu thẳm. Đêm nơi này như dài hơn, và buốt lạnh. Chút tàn tro nơi góc bếp vương vãi ra tận bậu cửa, bác Cùng lấy cặp đũa bếp gạt lớp tro phủ bên trên thanh củi gộc cháy dở, thổi phù phù vào đốm than liu riu. Hai ngày rồi, chị Tiên đi chưa về. Buổi chiều, tôi đang ngồi bên hiên coi bà giần gạo, từ ngoài ngõ bác Cùng hớt hải đi vào, giọng khản đặc: “Con Tiên có đây không chị Sáu?”. Nội lắc đầu, tôi cũng ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì xảy ra. Không kịp để nội hỏi thêm gì, bác Cùng đã quay ra, dáng đi tất tả chúi về phía trước.

Ánh hoàng hôn lịm dần trên đỉnh đồi. Một ngày nữa lại kết thúc. Bác Cùng lặng lẽ nhìn vệt sáng cuối ngày lặn xuống chân mây. Hôm chị Tiên đi, bác còn thấy chị ngồi vá lại cho cha mảnh áo sờn. Đó cũng là lần cuối cùng hai cha con ngồi ăn bữa cơm trọn vẹn. Thương bác, nội cũng bỏ hết công chuyện để tìm chị Tiên. Từng ngày trôi qua trong hoang mang, khắc khoải, chị Tiên vẫn bặt vô âm tín. Bác Cùng lần mò khắp sông suối ao đèo, bàn chân rách toạc rướm máu. Đêm xuống, sương lam phủ kín rừng, bác lại chong cây đèn dầu trước hiên, ngồi bất động, mắt đăm đăm nhìn ra màn đêm với hy vọng chị nhìn thấy ánh đèn sẽ tìm được đường về, nhưng chẳng có manh mối gì ngoài tiếng cú rúc lên.

Từ ngày chị Tiên mất tích, đêm nào bác Cùng cũng lầm lũi đi, trong bộ quần áo tả tơi, hốc mắt hõm sâu, bác miệt mài lần theo từng dấu chân in, gọi tên con. Người làng thương tình nhưng chẳng biết giúp gì hơn ngoài việc qua làng bên tìm kiếm chị; có người đồn đoán, chị đã bị cú rừng bắt đi.

Mặt trời xuống núi, bác Cùng vẫn lang thang trong rừng Mả Ngải. Gió từ đồi cao giật tung đám lá khô xoay vòng vòng. Trong lùm cây tối sẫm, một vệt đom đóm xanh lét lập lòe kéo dài, chúng di chuyển liên tục và phát sáng. Trên cành khô bị phạt ngang, một con quạ lẻ loi bay về, khàn khàn cất tiếng. Linh cảm, bác lặng lẽ bám theo con quạ. Trăng hạ tuần mỏng mảnh rọi xuống cánh rừng. Cây cối âm thầm xếp lá, bầy chim cũng lặng phắc ngủ yên. Bên cội muồng già, nơi ngày xưa bác đã gặp con, chị Tiên nằm đó, gương mặt trắng bệch dưới lớp lá khô. Hai vết bớt đen sẫm trên mắt rực lên dưới trăng, chiếc lược trầm hương chị thường chải tóc nằm lăn lóc bên bãi cỏ, còn vương vài sợi tóc ướt mưa… Bác Cùng khuỵu xuống ôm con, tiếng gào thét bật ra nghẹn đặc. Lũ chim rừng giật mình đập cánh bay lên…

*

Khu vườn trở mình trong mùi nhãn rụng, trong tiếng mùa thu đã bước vào đến giữa vườn. Bác Cùng thêm một đêm nữa ngồi trong bóng tối lảm nhảm. Ánh sáng từ bếp than hắt lên soi chiếc bóng gù gù tựa như dấu hỏi cong vòng giữa trời đêm.

Lần nào qua phá tôi cũng thấy bóng ai như chị Tiên đứng bên kia đồng chiều gió lộng, vẫy vẫy giữa bốn bề khói nước. Tôi đứng bất động nhìn mái tóc chị lấp loáng, suôn lạnh và ướt sũng. Chị cúi xuống ngắm hai hàng dấu chân mình cô đơn in một vệt dài trên bờ phá. Chị nhớ nhà, nhớ cha, nhớ con dốc Rú hai chị em thường chạy đuổi bắt… Có đêm từ chân dốc Rú vọng vào tiếng cú rúc lên từng hồi lạnh lẽo. Bác Cùng lại chân thấp chân cao bấm đất mà đi, mất hút vào bóng tối.

Cánh rừng phía tây trút hoa mận xuống trắng trời. Bác Cùng gầy rộc đi nhưng chiều chiều vẫn gắng gượng ra hiên, mắt dõi về phía vầng khói lam bảng lảng.

Đêm đó, sương về đặc quánh như những vầng khói lam bồng bềnh phủ xuống cánh rừng. Bác Cùng run rẩy đứng lên chống gậy lần theo bóng khói, dáng liêu xiêu chập chờn khuất dần trong sương lạnh. Sáng hôm sau, dưới cội muồng già nơi bác Cùng từng nhặt đứa bé năm nào, chỉ còn lại chiếc đèn dầu leo lét, bấc cháy cạn kiệt. Bác Cùng nằm đó, gương mặt chằng chịt những nếp hằn đã giãn. Nhẹ nhõm. Bình yên. Người ta nói bác đã chìm vào giấc ngủ sau cùng trong vòng tay con khi bếp lửa ở nhà vẫn còn ngún khói, chút than hồng còn ủ trong lớp tàn tro đang lụi dần. Bên dưới chiếc rương gỗ, người ta tìm thấy chiếc lược sứt răng bằng gỗ trầm hương. Người làng đặt bác nằm cạnh con. Đêm đó, người ta nghe tiếng chim cú rúc lên. Sáng hôm sau, con đường qua dốc Rú, người ta nhìn thấy hai dấu chân dẫn vào rừng, mất hút.

V.N.G
(TCSH446/04-2026)

 

 

Các bài đã đăng
Lão sửa xe (23/03/2026)
Đường cỏ (12/03/2026)
Tìm mẹ (06/03/2026)
Quán sương (03/03/2026)