LƯƠNG MỸ LINH
Người đàn bà nheo mắt, nhìn về phía cây cầu. Lũy tre ken dày, ôm ấp cái bến làng tự thuở năm nao giờ không thấy đâu nữa. Mặt trời đang vờn trên những con sóng phía thượng nguồn, hắt ánh hoàng hôn vàng vàng tím tím lấp loáng dưới chân cầu.
“Bến thì một dạ…”, người đàn bà khẽ cười. Có lẽ, ở cái thời mà muốn ngược xuôi đây đó, ngoài các con đường bộ gian truân trắc trở, gồng gánh xách mang, thì đường sông nước là thuận lợi nhất. Tự cao cao thượng nguồn, những mạch sông đã âm mang bao điều huyền diệu. Vượt qua thác ghềnh, núi non, trải lòng cùng biền bãi, xóm làng, sông để lại những mối tơ duyên vương vấn đôi bờ. Đời Bến, có lẽ sinh ra từ thuở ấy, có khúc có lúc, có nghĩa tình sâu nặng, có đắng cay trái ngang. Chỉ trách ai đó, ngàn đời sông chảy, thuyền trôi, căn cớ chi lại vận vào đời Bến nỗi đợi chờ mòn mỏi! Rồi có lẽ người xướng nên câu ca ấy, cũng không tưởng sẽ có một ngày, thời cuộc đổi thay, những chiếc cầu vươn vai nối nhịp, thuyền kia dần khuất bóng, vậy đời Bến có còn ai nhớ ai mong...?
Người đàn bà chầm chậm đi về phía làng, vừa đi vừa ngâm nga:
Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền
1.
Làng như hình cái mỏ neo, ba mặt cắm vào sông, gọi là Làng Neo. Từ các ông thầy địa lý ngày trước ôm mo ngang qua làng đến các nhà nghiên cứu khoa học địa chất sau này, ai cũng trầm trồ thắc mắc, không hiểu ma lực nào đã giữ được cái thế đất ấy, giúp làng vẫn tồn tại qua bao năm tháng xoay vần giữa vùng lưu vực hạ nguồn con sông đang cuồn cuộn mở rộng trước khi đổ về biển. Nhất là qua các trận đại hồng thủy dữ dằn, cũng có lúc cánh của mỏ neo bị lũ chặt phạt đi, nhưng rồi năm tháng, phù sa dần dà bồi đắp, cái cạnh neo lại hiện hình, móc ngoéo vào sông, kiêu hãnh và thách thức. Đời này qua đời khác, làng neo vào sông, thuyền neo về bến, bến neo những phận người!
Lão Tứ sống bằng nghề đưa đò và cất rớ. Lão từ đâu đến, cha mẹ là ai, anh em mấy đứa, cả làng không biết, cũng không mấy quan tâm. Đấy là sự khác biệt của Làng Neo với những miền thôn dã chung quanh. Ba mặt làng là sông nên bốn mùa thông thốc gió. Phải chăng vì thế mà những chuyện ân oán, thị phi cứ tràn qua làng, rồi theo sóng, theo gió tan vào hư không. Cái đọng lại, được neo giữ lại, chỉ đơn thuần là những tấm lòng chân chất, bao dung.
Nhà của lão Tứ, ban ngày là chiếc thuyền con, ban đêm là căn chòi nấp dưới tán tre um tùm ven sông, ngay chỗ giàn rớ cá. Thuở ấy làm chi có cầu, ba mặt sông đều là bến, nhưng con đò của lão Tứ và cái chòi rớ luôn đông khách nhất. Người làng và khách bên kia sông qua lại để buôn bán, làm ăn, còn có đám người rỗi việc, thường tụ tập lại cái chòi rớ cá, trưa nắng thì núp bóng râm, đêm thanh thì nằm nghe gió hát. Công đưa đò, người làng cứ tới mùa trả cho lão Tứ, lúc thì tay nải gạo, lúc mấy trái bắp tươi, hay lon đậu, lon mè, người khó quá thì hẹn năm sau, cũng không sao. Cái tình sông nước, cứ rứa mà đầy vơi.
2.
Người đàn bà lên đến mỏm gò, đứng lặng trước cánh cổng tre để ngỏ. Trên cánh cổng, một tấm biển bằng gỗ, thô mộc, khắc dòng chữ “Bèo gia trang”. Bên ngoài vẫn còn ánh nắng, nhưng nơi này, do bóng tre trùm lên, nên mọi vật cứ xâm xẩm tối. Bất chợt, hai ngọn đèn bão bên cánh cổng bật sáng. Rồi cả lối đi dài xuyên giữa vòm tre bừng sáng bởi hai hàng đèn bão treo đôi bên. Dòng ánh sáng vàng nhạt, ấm áp, soi rõ mặt đất nâu sậm, hắt lên vòm tre lấp loáng.
Chàng trai trẻ xuất hiện bên cánh cổng, lịch thiệp: Chào mừng quý khách đến với Bèo gia trang. Kính mời cô vào nhà ạ!
Người đàn bà khẽ khàng bước qua cánh cổng. Một cảm giác quen thuộc, đầm ấm bủa vây. Bà đứng lặng bên gốc u ma già cỗi, đưa tay sờ nhè nhẹ lên lớp da sần sùi trên thân gỗ. Những vết rựa khắc trên thân cây có còn không nhỉ, hay qua thời gian cây cũng lên da thịt, lấp đầy những vết thương! Còn cái tán duối nữa, nó nằm ở hướng nào rồi, sao tự dưng, bà cảm thấy như đang lạc vào một giấc mơ!
3.
Bèo đến với căn chòi của lão Tứ, là một giấc mơ có thiệt!
Tháng 4 năm ấy, cái đám rỗi việc tụ tập bên chòi giàn rớ lão Tứ cứ bàn tán về lũ măng trong lũy tre dày đặc bao bọc làng, măng nào măng nấy đều nấp kỹ vào trong, không khoe mẽ xưng xỉa ra bên ngoài bụi như những năm trước. Bọn họ mách lẻo quanh làng, còn dắt các cụ già ra tận bờ tre mục sở thị. Hết mùa măng, đám rỗi việc chuyển sang soi lũ kiến. Nào mới tháng 5 tháng 6 đang nắng chang chang mà lũ kiến đen kiến nâu lũ lượt kéo từng đàn lên tận mái nhà. Rồi mấy ụ mối trên đỉnh gò Đen, cũng đùn lên làm ổ trên tít thân mấy cây cổ thụ khô. Liên tiếp mấy trận mưa giông, sau tiếng sấm rền vang là cái mống 7 màu lấp lánh dài thườn thượt phủ cả dãy núi phía Tây. Đồn đoán về một năm bão bùng, lụt lớn cứ rứa mà lan đi. Đám rỗi việc nháo nhào chia nhau đi quanh làng, này nhà hai mẹ con bà Bụi ở gần bến đò, nơi đó trũng lắm, mưa lớn một ngày cũng đã muốn ngập rồi, lại còn nằm trơ trọi ven sông. Nhà kiểu này thì không có cách chi mà chống chọi lại bão lũ, nên từ mùa thu, mẹ con lo gói ghém mấy thứ đáng giá, xong ới chúng tôi tới khuân giúp lên gởi ở tẩm hậu đình làng. Nơi ấy cao ráo và chắc chắn, là nơi dân làng trú ngụ vào những ngày mưa to bão lớn, hễ nhẩm thấy trời đất chuyển động là vác thân chạy về đó trú thôi. Cả mấy dãy nhà nằm ven hai cái móc ngoéo của cái mỏ neo cắm về lòng sông cũng rứa, phen ni không chắc được trời tha, nên tốt nhất là gói ghém mọi thứ chuẩn bị, chúng tôi chia nhau giúp chuyển trước gởi tới mấy chỗ trú ngụ an toàn. Những nhà cứng cáp trong làng, có gác cao tạm ổn, nhưng còn cái chái bếp, mái hiên, cửa nẻo lỏng lẻo, đám rỗi việc kẻ đốn tre, người đan mành, tìm lá đánh tranh, rồi xúm nhau sửa giúp cho chắc ăn, phòng trừ mưa lọt gió lùa…
Lão Tứ thì như bao lần, hang ổ “phòng thủ” của lão là cái miếu hoang trên đỉnh gò Đen. Một cái miếu nhỏ, nấp kỹ dưới gốc cây bồ đề to lớn. Gia sản lão cũng chẳng có gì, hạ tấm lưới, cất gọn cái giàn rớ, nước lên thì đưa chiếc đò nhỏ lên gò, gởi tạm dưới gốc cây. Một hũ gạo, một bọc cá, tép khô, mấy lọ mắm muối, đừng quên cái gùi thuốc lá và ba cái bi đông rượu là đã đủ cho lão nhẩn nha ngồi đó mà ngắm nhìn một vùng sóng nước cuồn cuộn vờn quanh.
Rồi bão tới thật. Gió gầm thét, túm quật nghiêng ngả cả lũy tre. Gió cuộn mặt sông phần phật. Gió quần đuổi, rít lên từng đợt như muốn nhổ bật cả ngôi làng. Rồi mưa, mưa tối trời tối đất, nói như người làng là ông trời bưng thùng mà đổ nước. Nước sông ngầu đục, cuộn đi từng lớp. Nước tràn vào làng trong đêm, dâng cao không ngớt, tiếng trống từ ngôi đình từng hồi nhắc nhở, ánh đèn bão chập chờn, tiếng lợn eng éc, tiếng gà vịt quang quác, tiếng người gọi mách nhau í ới.
Lão Tứ đội nón tơi, tay cầm cái đèn bão, đứng trên mỏm gò Đen nhấp nhỏm dõi mắt về phía lũy tre làng. Theo thế đất, lỡ trong làng có gì sơ sẩy, sẽ bị nước ép về phía lũy tre, sượt qua mỏm gò Đen rồi mới bị cuốn ra sông lớn. Lão đã chuẩn bị sẵn, từ bao mùa trước, nào dây thừng, thùng nhựa, hèo tre, sẵn sàng ứng cứu. Phía mặt sông, qua màn mưa, lão Tứ loang loáng thấy từng mảng lớn đen ngòm vùn vụt trôi.
Gần về sáng, mưa ngớt hạt, nghe rõ tiếng nước ừng ực đập vào mỏm gò. Lão Tứ giật mình choàng dậy. Đêm qua, sau một hồi lâu đứng ngóng, khi phía làng dần im ắng, lão lạnh run chui vào trong miếu, cời lại ngọn lửa cho ấm người, rồi thiếp đi lúc nào chẳng hay. Lão Tứ lập cập vớ cái áo tơi, chui ra khỏi miếu, lão há hốc mồm, dụi mắt mấy bận. Lần đầu tiên sau mấy chục năm neo đậu vào cái làng này, lão thấy nước lũ cao quá thể. Nước đã mon men lên quanh cái gốc đa đỉnh gò Đen, một phần to tán cây đang nghiêng trĩu, xập xõa trong nước. Rặng tre làng chỉ còn lơ thơ mấy chùm te tua chập chờn trên mặt nước. Hai cái cánh neo của làng đã bị xé toạc, cuốn phăng tự lúc nào trong đêm. Thiệt là may quá, ngay trong mưa gió chiều qua, lão cùng với đám rỗi việc và lũ thanh niên trong làng đã vòng tới vòng lui mấy bận, đảm bảo không còn ai lấn cấn tá túc lại trong mấy ngôi nhà đó. Lão Tứ cẩn thận đi quanh gò đất. Chợt lão giật mình đứng sững. Một duềnh tranh tre, bèo bọt đang vướng vào tán cây đa, trên đó chấp chới một mái tóc…
Mỏm gò Đen, làng Neo đã níu nàng lại bên lão Tứ!
Rã lụt, cả làng tất bật dọn dẹp, đắp đất, dựng nhà, tìm nơi ở mới cho những người mất trắng. Lão Tứ bận bịu hơn ai hết. Không ngờ, món nước gừng ấm của lão trong buổi tờ mờ lũ dữ ấy đã hồi tỉnh được nàng. Nước vừa lưng dòng, lão cuống quýt chèo đò qua bên kia sông, tìm tới ông thầy thuốc danh tiếng, nằn nỉ chở được về bến làng, rồi vội vã cõng ông chạy miết lên ngôi miếu hoang đỉnh gò Đen. Ông thầy thuốc cũng không tin vào mình khi chẩn đoán mạch cho nàng. Thật là thần kỳ, thủy thần đã thực sự tha mạng cho hai mẹ con nàng ư?!
Giọng nàng yếu ớt: Trong hoảng loạn, tuyệt vọng cùng cực, nàng bấu chặt lấy sườn mái nhà tranh, ngụp lặn, va đập, ý nghĩ le lói duy nhất, cầu trời đất, thủy thần xót thương tha thứ cho phận bọt bèo của đứa con còn đang chưa rõ hình hài…
Các già khuyên lão Tứ vào làng tìm mảnh đất phù hợp cất mái tranh che nắng che mưa, nhưng lão cứ khẩn khoản, rằng cây đa và ngôi miếu hoang đã rộng lòng ban phước cho mẹ con nàng. Hơn nữa, nàng mong manh thế kia, xin làng cho nàng được an ổn nơi đây, có lão chở che, tránh bớt những điều tọc mạch, bóng gió. Mọi người thuận ý, vui vẻ phụ cùng lão Tứ nhanh chóng dựng một căn nhà nhỏ, ẩn dưới gốc đa. Đám rỗi việc vừa đốn tre, chẻ lạt, lợp tranh, vừa cười hỷ hả: Cuộc đời lão Tứ thật vi diệu, phen này, ngó chừng lão còn hời hơn cả Tái ông mất ngựa!
4.
Người đàn bà đứng lặng trước khoảng không gian sống động đang bày ra trước mắt. Một cái giàn rớ đang cất cao với những nhịp tre được bện thừng rất khéo. Trên không trung, cái đèn bão to lớn tỏa từng chùm ánh sáng lọt qua mắc lưới, rơi xuống mặt hồ lững lờ những chùm lục bình đang rộ màu tim tím. Phía mé hồ là căn chòi nhỏ, trước cửa treo chùm ba cái bi đông sắt, cơn gió nhẹ thoảng qua làm chúng va vào nhau leng keng như tiếng chuông. Phía góc xa kia, chùm ánh sáng hồng dịu đang chiếu vào cái biển nhỏ trên gốc duối với dòng chữ Bến đò Bèo. Một con đò nhỏ xinh, cắm sào đứng đợi!
- Dạ… thưa cô, mời cô vào trong nhà để nghỉ ngơi ạ! Chàng trai trẻ nói khẽ.
Người đàn bà quay người, gật đầu và đi theo chàng trai. Căn nhà tranh vách đất ba gian ấm áp hiện ra. Người đàn bà thảng thốt bước qua ngạch cửa. Chiếc giường tre, cái bàn gỗ, kệ tủ, cả con ngựa gỗ mòn vẹt hai bên tay ghì… Trên bàn thờ gian giữa, sau mảnh rèm, bát hương đang quyện khói, lão Tứ và nàng đang mỉm cười…
- Cha, mẹ... ơi! Người đàn bà khụy xuống.
5.
Ngay cả trong mơ, lão Tứ cũng chưa bao giờ dám ước có một ngày, đôi bàn tay chai sạm nắng gió của lão được bế một hình hài bé nhỏ như thiên thần. Nụ cười ấm áp của nàng và tiếng khóc trẻ thơ càng làm cho lão thêm ngớ ngẩn, vụng về. Bé Bèo, tên cô gái nhỏ, cứ đầy ắp trong câu chuyện của lão với khách qua đò. Nhưng rồi, ông trời vẫn ở không cân, sinh lực nàng ngày càng cạn kiệt. Thầy thuốc nói, những giọt nước lũ ngầu đục vẫn quanh quẩn đâu đó trong phổi nàng. Để sinh hạ được bé Bèo tròn trịa, nàng đã dốc cả sinh mạng. Trao bé Bèo vào vòng tay lão Tứ, nàng ngậm ngùi rời đi…
Làng ba mặt là sông, căn nhà nhỏ của cha con lão Tứ trên đỉnh gò Đen thông thốc gió. Bèo lớn lên trong vòng tay ấm áp, sẻ chia của những tấm lòng nhân hậu người làng Neo!
- Cậu… biết tôi? - Người đàn bà gạt nước mắt quay sang chàng trai trẻ.
- Dạ… - Chàng trai trẻ ấp úng, hai bàn tay đan vào nhau, bối rối… - Dạ, con đã gặp được cô… qua những hình vẽ của cha con.
- Cha… của cậu?
- Dạ… cha của con là… Vị Khách Tốt Bụng ạ.
Chàng trai trẻ bước về phía gian thờ, đốt ba cây nhang. Khấn lạy xong, chàng trai nhón chân lấy cái hộp gỗ cũ kỹ bên cạnh hai tấm ảnh. Quay lại phía người đàn bà, chàng thưa:
- Dạ, ba con căn dặn, khi nào cô về thì con được mạn phép trao cho cô hộp gỗ này.
6.
Buổi sáng mùa đông năm ấy, cả làng Neo nhốn nháo.
Đám người rỗi việc năm xưa, nay đã thành cụ, lập cập chống gậy về phía mỏm gò Đen, rồi cuống quýt chạy tới bến đò, hối thúc người làng bủa ra tìm kiếm, soi kỹ trong từng lùm tre, bụi đác ven sông.
Trong một lần chở đoàn khách đặc biệt bí mật vượt sông ban đêm, lão Tứ và con đò nhỏ mãi mãi không trở về.
Đò thay chủ. Bến vẫn đông khách. Chủ đò là cô gái trẻ ngày càng mặn mà xinh đẹp. Bến đò Bèo, ngoài khách lại qua, có thêm đám thanh niên ngơ ngẩn ngồi ngắm cô chủ đò.
Nhưng rồi buổi sáng tinh sương ấy, căn nhà trên mỏm gò Đen vẫn để cửa, mọi thứ vẫn gọn gàng, ngăn nắp. Con đò vẫn neo ở bến. Nhưng cô chủ xinh đẹp, tuyệt không thấy nữa.
- Con Bèo, lẽ nào…
- Có ai gặp nó đâu không?
- Những ngày qua có ai nghe nó buồn bã, than vãn chi không?
- Mà, Vị Khách Tốt Bụng vẫn chưa quay về làng hả, hay con Bèo đi tìm ông ấy?
- Ủa, nó đi tìm ông ấy làm chi! Nghe nói, Vị Khách Tốt Bụng có chuyện nhà đâu đó nên rời làng non tháng rồi. Sau đó dăm bữa, lại có chuyện lan man trên sóng nước, rằng chắc chuyến này ông í không từ mà biệt rồi, nghe đâu, vợ cũ ông ấy sinh con trai.
- Ờ, biết rồi, ông ấy từng nói có vợ cũ.
- Ủa, mà vợ cũ sinh con thì mắc chi tới ổng?! Cũng không phải, mà mắc chi tới con Bèo, ai biết cho tỏ với!
- Ai mà tỏ. Con Bèo vẫn miệt mài đưa khách mà. Có điều, hình như nó trầm lặng hơn trước. Có bữa hết khách, hoàng hôn tím sẫm cả khúc sông. Con đò cắm sào đứng đó. Còn nó thì ngồi bó gối lặng câm nơi gốc duối.
- Mà này, nghe nói chiều trước đó có tiếng ới đò bên kia, con Bèo vội chèo qua, nhưng xẩm tối mới thấy nó quay về, trên đò cũng chẳng có ai. Con Bèo cắm đò, nhưng không đi lại bên gốc duối như mấy bận. Nó thẫn thờ leo lên dốc gò. Căn nhà nhỏ sáng đèn suốt đêm.
- Rứa, có ai tìm kỹ quanh mỏm gò chưa? Có khi mô đêm hôm nó trượt chân nằm ngất đâu đó!
- Thiệt tình, cứ nói như phim. Đám thanh niên ngơ ngẩn ấy gần như xới nát mỏm gò cũng như cái làng này rồi. Bọn nó thuê đò chạy dọc lên xuống, ra tận biển mấy ngày liền. Còn nghe đâu qua bên kia phố đăng tin tìm người.
- Rứa, có manh mối chi chưa?
- …
Làng, ba mặt là sông. Mùa xuân năm ấy gió xuân không về!
7.
Người đàn bà ngồi rất lâu trước cái hộp gỗ cũ sờn.
Cả gia trang im ắng. Thi thoảng có cơn gió chao nhẹ những chiếc đèn bão. Tiếng mọt tre gặm cà kít trên cột nhà. Con thằn lằn chốc chốc lại sốt ruột tróc lưỡi choách choách.
Tay người đàn bà run run…
Gởi em, cánh Bèo yêu dấu của làng Neo!
Dù người làng Neo đã khóc, còn lập cả đàn tế đoạn nghiệp cho em, nhưng tôi vẫn tin, một ngày nào đó, em chắc chắn trở về.
Cánh Bèo nhỏ, đã một lần lựa chọn làng Neo, nhất định sẽ trở về bến cũ!
Giống như tôi, theo lời em hay nói, là cánh buồm đẫm muối biển khơi, dãi dầu sóng nước, nhưng một khi đến bến làng Neo, buồm sẽ không dong lên nữa…
Ngày ngày, tôi vẫn đợi em, bên gốc duối, nơi bến đò đầy kỷ niệm!
Tôi chắc rằng, cánh Bèo nhỏ giận dỗi nên bỏ đi rong chơi đây đó. Về phần tôi, rơi vào một tình thế trái ngang, thật không biết cách phải giải thích kiểu gì với người làng Neo cho rành mạch. Vì thế, tôi chỉ có thể đem tất cả tấm chân tình của mình làm lời tạ tội.
Được làng Neo ưu ái, trao cái danh Vị Khách Tốt Bụng, nên dẫu em đi vắng, tôi cũng khẩn trương ngày đêm bắc cái nhịp cầu. Mong ước của người làng Neo, và cả em nữa, qua bao trắc trở, cũng được hoàn thành. Sẽ không còn vất vả nữa, những cánh tay chèo oằn mình trong dòng nước bạc. Con đò nhỏ, là em, từ nay hãy thảnh thơi gối đầu bên gốc duối, nằm mà nghe sông hát khúc tự tình.
Gia trang cũng tạm nên dáng nên hình, như lời em hay kể. Đoạn nào còn khúc mắc, đợi khi em về, ta hóa giải những oan khiên! …
8.
- Con xin lỗi, dường như… đêm qua cô không ngủ? - Chàng trai trẻ rụt rè.
- Cậu… tinh ý thế. Nhìn tôi hốc hác lắm à?
- Dạ không. Cô vẫn… xinh đẹp lắm ạ. Tại… con thấy bóng cô ngồi suốt đêm bên cửa sổ.
Người đàn bà ngạc nhiên: Vậy là cậu đã ngồi canh cho tôi cả đêm qua ư?
- Dạ, không phải ạ. Nhưng là… còn một lời nhắn gởi của cha con mà bữa qua con chưa kịp nói.
- Nhắn gởi… cho tôi ư?
- Dạ, công trình cầu và gia trang này gặp rất nhiều vướng mắc, kéo dài hơn dự định, nhưng bằng sự kiên trì, nỗ lực, cha con đã hoàn thành. Nhưng rồi, người lại lên cơn đau tim. Đến phút cuối, cha con vẫn tin chắc nhắc rằng, nhất định có một ngày, bà chủ của gia trang này, sẽ trở về!
- Bà chủ?
- Dạ, con chỉ là người thực hiện di nguyện của cha, trông coi gia trang này đến ngày trao lại cho cô, người chủ đích thực ạ!
Gốc duối bên bến nước, nơi từ ngày ấu thơ, cô bé Bèo ngồi ngóng những chuyến đò của lão Tứ, cong bẹt, mòn vẹt như cái lưng ghế tựa. Duối ơi, mày bao nhiêu tuổi, mày với con đò, đã cười cùng tao, những nụ cười hạnh phúc. Chúng mày, cũng đã e thẹn, rung động cùng tao trước những ánh mắt đắm đuối, lời nói ngọt ngào. Rồi cũng chỉ có chúng mày, đã thổn thức vụng dại cùng tao, những giọt nước mắt của một đời con gái… Tất cả xa rồi, người cũng đi rồi, sao chúng mày vẫn còn ngóng đợi nơi đây?!
Người đàn bà cho tay vào cái hốc “bí mật” trong thân gốc duối. Cái hộp thư vẫn còn đó, nồng nàn những lời bèo nước, gió mây! Trên cùng, là một bức thư dài.
…
Sợ rằng, tôi không đợi được, ngày em trở về!
Nhưng không sao, còn có con đò, còn gốc duối này, chúng sẽ mãi chờ đợi em!
Em sẽ không phiền, khi đón em là một chàng trai trẻ. Đứa bé ấy, ắt hẳn là căn nguyên nên em giận dỗi bỏ làng Neo, bỏ tôi ra đi. Tôi và người làng Neo tìm em khắp chốn, nhưng cánh Bèo nhỏ thực sự kiên cường, đã ẩn nấp thật kín kẽ…
Còn về chàng trai trẻ này trong cuộc đời tôi, thực sự không có gì phải hổ thẹn với lòng, nhưng tôi chỉ muốn được nói nhỏ với riêng em, âu đó cũng là duyên tiền định. Giống như em, cánh Bèo được đến với làng Neo, đến với tôi - người cha - như lão Tứ vậy!
Mẹ đứa trẻ đã gởi gắm nó cho tôi. Tôi lại gởi nó với làng Neo. Và, giờ nó sẽ thay tôi, ở đây đón đợi em về! …
Người đàn bà bật khóc tức tưởi. Bao nhiêu ẩn uất, oán than cứ theo dòng nước mắt tuôn dài…
9.
Người đàn bà nói với chàng trai trẻ:
- Cậu… à không, con… có đồng ý, kiểu như, có một cô chủ nhỏ đồng hành cùng con gìn giữ gia trang này?!
- Còn có, cô… chủ nhỏ, là ai nữa ạ?
- Là…, em gái con!
- Dạ? Em… em gái. Con còn có em gái, thật ư?!
- Ừ. Em gái. Cũng sắp xong khóa học rồi, nó luôn ao ước được về, với làng Neo!
Làng, ba mặt là sông. Gió, không tràn qua thông thốc nữa. Gió, đang neo lại dưới những tán tre. Gió kể rằng, có cái bến nước, một dạ khăng khăng, neo giữ một con đò!
L.M.L
(TCSH449/07-2026)