Tạp chí Sông Hương -
Thất thủ Kinh đô Huế, chuyện bên lề chính sử
16:09 | 14/08/2026


ĐỖ MINH ĐIỀN

Thất thủ Kinh đô Huế, chuyện bên lề chính sử
Tranh minh họa Kinh thành Huế năm 1885. Nguồn: Le Monde Illustré (29e Année, No 1479, 01/8/1885)

Những điềm báo không may

Sau ngày 23/5 năm Ất Dậu, Kinh thành Huế rơi vào tình trạng rất khó để có thể diễn tả trong vài trang viết. Nói như Lê Thanh Cảnh, cái đêm 22 rạng sáng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (04 - 05/7/1885) đó là ngày “Kinh thành hữu sự”.

Trước năm 1945, một số tờ báo như Hà Thành ngọ báo, Tiếng Dân, Ngày Nay, Tràng An, Thời Vụ..., qua các bài viết dài ngắn khác nhau, bước đầu giúp người đọc nhận diện khá rõ bối cảnh cuộc chiến và vai trò của các nhân vật tham gia cuộc tấn công vào đêm 22 rạng sáng ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu. Đáng kể hơn cả phải nói đến loạt bài viết Chuyện thất thủ, những cuộc binh hỏa, những đoạn huyết lệ sử trong cuộc Pháp Nam gặp gỡ về thế kỷ trước của tác giả Lê Thanh Cảnh được khởi đăng nhiều kỳ trên báo Tràng An. Sau đó, năm 1938, tức sau đúng 53 năm (1885 - 1938) kể từ ngày xảy ra sự biến thất thủ kinh đô, báo Tràng An đã thực hiện 1 số Đặc biệt về sự kiện thất thủ kinh đô. “Ôn cố” để “tri tân”, số báo này tập trung phần lớn bài vở phác thảo lại bối cảnh và toàn bộ diễn biến cuộc tấn công của lực lượng quân đội dưới sự chỉ huy của Tôn Thất Thuyết tấn công vào tòa Khâm sứ. Ngoài ra, các tác giả trên cơ sở sưu tra các nguồn tư liệu (tư liệu thành văn, ký ức dân gian), từng bước giải mã những góc khuất đằng sau sự kiện thất thủ kinh thành.

Tháng 7 năm Nhâm Ngọ triều vua Tự Đức (1882), vùng biển ở tỉnh Bình Thuận phát ra tiếng kêu rất lớn. Sau đó, vào khoảng tháng 8, ngày Quý Hợi, sao Sa có tiếng như sấm. Năm Quý Mùi, Tự Đức thứ 36 (1883), sao Cờ (sao Phướn) mọc lên ở phương Đông, nửa canh 5 mọc ở phận giã sao Dực, sao Chẩn, từ dưới mà lên, dưới sắc đỏ, trên sắc trắng, dài như tấm lụa, hơn 1 tháng mới đi đến sao Thiên lang rồi lặn. Mấy tháng sau vua Tự Đức băng hà, rồi Thuận An thất thủ, đời sống nhân dân bấy giờ vô cùng cơ hàn, gạo một ô 2 tiền. Vì thế dân gian Huế có câu vè rằng:

“Năm Mùi sao Phướn lộ ra,
Một năm chết đói, và ba năm buồn”.

Vào ngày Ất Hợi, năm 1883, làm lễ tấn tôn vua Hiệp Hòa tại điện Thái Hòa. Trong khi các quan đang sắp hàng bái lạy có một con chim đậu trên ngọn cây trước điện Thái Hòa kêu lên bốn tiếng. Đến lúc đọc di chiếu lại có một đàn dê đi qua cầu Kim Thủy. Người ta cho rằng, đó là những điềm báo không tốt, vì vậy sau mấy tháng Thuận An thất thủ, rồi vua Hiệp Hòa bị bức tử. Sau ngày thất thủ ở Thuận An, vào ngày Bính Thìn, mặt trời bỗng dưng đổi ra sắc xanh (buổi sớm mai sắc xanh, rồi đổi qua sắc trắng, người đi không thấy bóng, suốt ngày không sáng). Gần một năm sau đó (1884), dưới triều vua Kiến Phúc, sau khi vua Hiệp Hòa và Trần Tiễn Thành bị bức tử, sao Chũi (Chổi) mọc, đầu ở phương Tây Nam, đuôi trở qua Đông Bắc, dài 6-7 tấc, sắc hơi mờ mờ, giáp cung Tý Hợi và ở phía dưới sao Bích, mọc vài ngày thì lặn.

Trước ngày xảy ra sự biến thất thủ, người dân khắp vùng Huế truyền tai nhau câu chuyện rằng: Hôm ấy là ngày mùa hạ, nhưng ai ai cũng cảm nhận đó là ngày nóng nực khác thường. Đúng vào giờ Ngọ, từng cơn gió mạnh liên tục kéo đến, cát bụi tung trời. Khoảng 5 phút sau trời tối đen. Hai hôm sau, một trận mưa giông vừa ngớt, phía Tây những đụn mây vần ùn lại một góc, sau đấy mây đổi sắc, phân thành 3 màu: xanh, trắng, đỏ, trông giống như hình lá cờ nước Pháp. Những hiện tượng thiên văn dị thường lúc bấy giờ được dân gian diễn giải đó là những điềm báo không may mắn đối với vận nước. Chúng nhanh chóng đồn thổi khắp xứ Trung Kỳ. Tuy vậy, hơn 40 năm sau đó, các học giả người Pháp và người Việt đã kỳ công sưu tầm và từng bước lý giải các hiện tượng nói trên như một sự trùng hợp ngẫu nhiên mà thôi.

Góp nhặt chuyện kể dân gian

Vài ngày sau kinh đô thất thủ, cả kinh thành được ban bố lệnh giới nghiêm. Người dân ở trong ngoài kinh thành đều khiếp sợ quân đội Pháp. Lúc này, binh lính Pháp hễ thấy người Việt đi ngoài đường mà không có giấy tờ tùy thân thì họ bắt bớ, đánh đập, tra khảo, hoặc có dấu hiệu tình nghi sẽ xông vào đập phá nhà cửa. Các cửa ra vào đều dán một tờ giấy, trên đó ghi rõ chữ: Cấm chỉ. Dân Huế bấy giờ hoặc là ở yên trong nhà, còn nếu muốn ra vào thành phải đến quan Tham biện Viện Cơ mật xin cấp một tờ giấy thông hành.

Bài viết của nhà văn Thanh Tịnh về ngày thất thủ kinh đô Huế năm 1885. Nguồn: Báo Ngày Nay, số 171 (22/7/1939).


Theo phỏng vấn của các tờ báo, sau ngày thất thủ kinh đô, phần lớn quân lính Pháp đồn trú trong thành rất thiếu thốn lương thực, thực phẩm. Nhân cơ hội kinh thành hỗn loạn, họ vơ vét một số vật phẩm quý giá rồi đưa ra cửa Thượng Tứ để trao đổi chuối, trứng gà, gạo với người dân. Hàng trăm các loại ngọc ngà châu báu, đồ sứ ký kiểu, đồ đồng quý giá từ các cung, điện ở Hoàng thành Huế theo đó cũng tuồn ra ngoài. Rất nhiều người trở nên giàu có chỉ nhờ vào mấy nải chuối và dăm ba chục quả trứng gà. Ngoài ra, quan binh của nhà Nguyễn và người dân trong Thành nội thừa lúc “quốc gia hữu sự” cũng tranh thủ “lấy của trong Nội trốn ra”: “Vì rứa [vậy] mà chừ [giờ] mới được nên danh nên giá, ông nọ bà tê [kia], lên xe xuống ngựa, ô tô năm bảy cái, nhà lầu từng chục dãy, vợ hầu có hàng đống”1. Nói như vậy để thấy rằng, trong biến cố thất thủ kinh đô, các cổ vật quý hiếm của vương triều nhà Nguyễn vì thế mà thất tán khá nhiều.

Cũng theo hồi ức người Huế, quan binh của Pháp vốn từ xứ lạnh, vì vậy thời gian đầu khi sang nước ta họ không thể nào chịu nổi cái nóng của dải đất miền Trung. Binh lính lúc này cởi bỏ toàn bộ quân phục rồi gom lại đem ra ký gửi tại hiệu Tinh Ký ở ngay cạnh phủ Khâm sứ. Người dân Huế với số tiền ít ỏi có thể đem đổi lấy 1 chiếc áo bền đẹp, rồi đem về để làm chăn mền.

Phỏng vấn 134 nhân chứng sống (1938), bao gồm quan lại, binh, dân sinh sống trong ngoài kinh thành, các ký giả của một số tờ báo cho chúng ta hình dung rõ nét hơn về một số câu chuyện trong và sau ngày kinh đô thất thủ. Trận chiến “mù u” lâu nay vẫn được lưu truyền như một chiến thuật độc đáo được quan quân nhà Nguyễn sử dụng và đã gây ra cho quân đội Pháp rất nhiều tổn thất. Tuy vậy, theo như lời kể, việc rải trái mù u để binh lính Pháp giẫm đạp lên rồi trượt ngã, sau đó quân lính nhà Nguyễn thừa cơ xông vào giết giặc chỉ là những lời phóng đại. Thực tế, người gánh chịu hậu quả nặng nề nhất lại chính là binh lính triều đình. Cụ thể thực hư của trận chiến mù u được các nhân chứng cho biết như sau: “Mình đồn phao lên rằng: Mù u mà rải ra rứa, người Pháp chân đi dày [giày] thì tự nhiên đạp lên là phải trợt bổ [trượt ngã]; thừa cơ hội nớ [đó], quân mình cứ việc tới đâm một mát [mác] vào là xong. Nhưng thiệt ra thì quân họ có ai chết vì mù u mô đã chớ. Chỉ có quân mình thì có. Quân mình thấy có mấy người Pháp bổ xuống, vừa xắm rắm chực tới đâm thì họ đã rút súng lục nảy [bắn] cho một cái, rứa là xong đời. Ăn thua quỷ chi cái thứ mù u nớ”2.

Theo lời kể các nhân chứng, số binh lính Pháp tử nạn là rất ít. Trong trận chiến đêm mồng 4 rạng sáng ngày mồng 5/7/1885, quan binh dân của ta chết rất nhiều, “bên ta vừa dân vừa lính, chết hại độ vài nghìn người. Bên Tây chỉ có 23 người chết và độ hơn 80 người bị thương”3. Số binh, dân tử nạn chủ yếu là do quá hoảng loạn nên giẫm đạp lên nhau, nhiều nhất là khu vực từ lầu Tàng thư đến hồ Tịnh Tâm, cửa Hiển Nhơn, cửa Thượng Tứ: “Trong các nhà, trên các con đường, dưới những hồ sen, ao cá, đâu đâu cũng có người chết. Nhất là quãng từ Tàng thư đến Tĩnh Tâm, xác người chồng chất lên nhau từng đống. Chung quanh tòa Khâm, trước sau Mang Cá, trên cầu Thanh Long và những nơi đã xẩy ra cuộc xung đột của quân ta và lính Tây, xác chết cũng nằm như rạ”4.

Phần lớn tử thi vô chủ sau đó được cất bốc đem đi an táng tại khu vực nghĩa trang Ba Đồn, 3 khu hợp táng ở ấp Tứ Tây, Ngũ Tây thuộc địa phận làng An Cựu (nay thuộc phường An Cựu, thành phố Huế). Trong khi đó, hầu hết binh lính của họ chết chủ yếu do không quen khí hậu ở xứ ta và bệnh dịch: “Chính vì tại thây [xác] người mình chết nằm rải rác tràng đống trong thành nội, từ chỗ rãnh ao tới lỗ cống, từ bợt sông tới bờ ruộng. Lúc nớ, nói vô phép với thầy chớ, hắn thúi [thối]… cha là thúi. Mà khắp cả thành phố Huế đây đều rứa cả, cho nên quân họ, tới đất mình chưa hạp [hợp] thủy thổ, thành thử chết lăn chiên đổ đèn ra vì bệnh dịch lan truyền; theo lời họ thì là tại mấy cái thây ma người mình nớ cả. Sau cùng, nạn quá, họ mới rắc vôi bột khắp các nẻo đường hóc cống, trừ khử quan ôn dịch lệ. Mãi có mấy tháng trời trường sau lại, bệnh dịch mới ngơi được cho”5.

Lễ cúng thất thủ kinh đô và bài văn tế cô hồn

Với tất cả những ai đến Huế vào những ngày tháng 5 (âm lịch) đều không khỏi ngỡ ngàng trước cảnh phố phường dựng chòi che rạp, nghi ngút trầm hương. Khắp mọi nhà, từ những trục lộ chính đến các con hẻm sâu hun hút, từ khu vực nội thành đến vùng thôn quê hẻo lánh đều thiết đặt cỗ bàn. Tháng 5 đong đầy biết bao cảm xúc, nhưng với người dân Cố đô, nó còn được nhắc nhớ với cái tên thoáng nghe thật rùng rợn: Tháng cô hồn. Hơn một thế kỷ đã trôi qua, cứ đến ngày này, người dân ở Huế bất kể già trẻ, hèn sang lại bày biện lễ vật cúng tế. Ngày nay, lễ cúng thất thủ kinh đô (còn gọi là lễ Truy niệm chiến sĩ trận vong và đồng bào nạn vong năm Ất Dậu) vẫn được duy trì đều đặn, trở thành một nét văn hóa đặc trưng của người dân thành phố Huế.

Lệ cúng ngày 23 tháng 5 được người dân khắp thành phố Huế cử hành hằng năm. Đó là ngày “giỗ chung”, năm nào “đến ngày thất thủ, từ thôn quê đến thành thị, mấy phường và Hoàng thành đều có thiết lễ cầu xiêu [siêu] cho các vong, tục gọi là lễ Thất thủ”6. Theo kết quả khảo sát của các thành viên trong Hội Đô thành Hiếu cổ, Cổ học viện, Hội Quảng Tri và các phóng viên, ngoài đàn tế do triều đình lập ra ở gần cửa Nhà Đồ (cửa Chánh Nam), thì việc thiết đặt lễ tế diễn ra ở hầu khắp các đàn, miếu cô hồn trong kinh thành. Đó là các đàn tế thuộc địa phận các phường ở Nội thành và khu vực ngoại quách Kinh thành, như phường Tây Lộc, phường Tây Linh, phường Huệ An, phường Tri Vụ, phường Thuận Cát, phường Thái Trạch, phường Trung Hậu, phường Trung Tích, phường Vĩnh An, phường Phú Nhơn, phường Đệ Nhất, phường Đệ Nhị, phường Đệ Tam, phường Đệ Tứ.... Ngoài ra, lễ cúng này cũng được tổ chức với quy mô khá lớn tại Nghĩa trang Ba Đồn, đây là địa điểm an táng của hơn 800 binh dân tử nạn trong sự kiện kinh đô thất thủ.

Bản Dụ Cần vương trong Châu bản triều Nguyễn (ngày 12 tháng 6 niên hiệu Hàm Nghi nguyên niên, 1885). Dẫn từ Nguyễn Thu Hoài. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I.


Ghi nhận về lễ cúng tế thất thủ kinh đô vào năm 1935, trong bài viết Ngày lễ thất thủ Kinh thành, tác giả Ngọc Trản cung cấp cho chúng ta khá nhiều thông tin liên quan đến việc tổ chức lễ cúng thất thủ ở kinh thành Huế hồi đầu thế kỷ XX. Bài báo có đoạn viết:

“Đêm 22, sáng 23 tháng 5, năm Ất Dậu, tại Kinh thành, tiếng súng nổ liên thanh, lửa cháy đỏ trời, hơn mấy ngàn sinh mệnh bị viên đạn vô tình hay ngọn dáo [giáo] sắt đưa hồn oan về địa phủ. 1885… 1935. Năm mươi năm chẵn. Mỗi năm, cứ đến ngày đau đớn ấy thì nhân dân Đế kinh lại làm lễ cúng các vong linh mất trong ngày thất thủ kinh thành. Ba hôm nay 22, 23, 24, từ trong Hoàng thành, các phường và đến các làng, đi đâu cũng nghe tiếng chuông u minh, hồi trống Bát nhã hòa lẫn cùng tiếng tụng niệm của các sư cầu xiêu [siêu] cho các oan hồn uổng tử. Lễ này không phải lễ công, chỉ do lòng từ thiện của nhân dân, nhưng các lễ ấy rất cảm động, vì tất cả các hạng người đều có làm lễ. Ngoài các ‘phổ’ âm hồn lớn thiết trai đàn, các hạng binh dân nghèo cực, như các hạng kéo xe, chèo thuyền cũng nhịn tiêu, góp một vài hào mua con gà, quả chuối, đĩa sôi [xôi] để cúng ngày thất thủ. Ai ra khỏi thành thị, về thôn quê, cách xa Bao Vinh một đoạn để xem các lễ của bọn chài lưới cúng, cũng không khỏi không động lòng xót thương. Trên bãi cát, mấy ngọn lửa nến lập lòe theo ngọn gió biển chiếu sáng mấy đĩa đậu, khoai, gần vài trăm áo giấy và nồi cháo nóng lên hơi”7.

Trên báo Tràng An số 330 (ra ngày 17/6/1938) có giới thiệu một bài văn tế thất thủ kinh đô. Không rõ tác giả của nó là ai, song đây là bản văn tế được đông đảo người dân Huế dùng để đọc trong lễ tế cô hồn. Bài văn tế kết cấu chặt chẽ, đọc kỹ mới thấy lời văn vô cùng thống thiết trước nỗi đau mất nước, lòng ngậm ngùi, xót xa cảnh mấy vạn binh dân cùng “đội một trời, chung một tổ” không may vong nạn. Nhận thấy đây là nguồn tư liệu quý hiếm, vì thế chúng tôi xin mạn phép dẫn lại nguyên văn bài văn tế nói trên:

Hỡi ôi!
Trời mấy tuổi, đố ai đặng biết, một năm mười hai tháng, tháng hâm chín, tháng ba mươi;
Người trăm năm, mấy kẻ vẹn toàn, ba vạn sáu ngàn ngày, ngày nay đây, ngày mai đó.
Cơ tạo hóa xây xây lở lở, vực hóa cồn, cồn hóa vực, sóng vô thường nhào lộn lớp tang thương;
Kiếp phù sinh bọt bọt bèo bèo, tan rồi hợp, hợp rồi tan, mây bất trắc xoay quanh vòng kim cổ.
Cảm thương những khách cô hồn;
Tưởng nhớ đến ngày thất thủ.
Ai ơi!
Cũng đội một trời;
Cũng chung một tổ.
Giống Hồng Lạc bốn nghìn năm nảy nở, dù quê quán có kẻ Nam người Bắc, hạt máu rơi đều đồng chủng đồng bào;
Ơn Quốc triều ba trăm lẻ thấm nhuần, đành sinh tiền có kẻ lính người dân, bát cơm hẩm cũng vương thần vương thổ.
Thạnh suy trị loạn đã đành rồi;
Mạnh được yếu thua là lẽ đó.
Ngao ngán nhẽ “nhứt gia lưỡng quốc”, kẻ nói hòa, người nói chiến, việc triều đình “nan phân thuyết” cho xong;
Xót xa thay “tứ nguyệt tam vương”, bỏ người nọ, lập người kia, cơ vong quốc “triệu bất tường” đã rõ.
Quân Phấn Nghĩa có chi là dõng nghĩa chỉ vuốt nanh cho tướng Thuyết hành hung;
Đội Cần Vương nào mấy kẻ trung cầu, cũng vây cánh của quận Tường dẫn dụ.
Lệnh Tướng nửa đêm truyền dậy, trống giục cờ rung;
Súng Tây bốn phía xông vào, thành tan ngói đỏ.
Cơn binh hỏa có phân gì ngọc thạch, giữa đám núi thây sông máu, biết tên
chi, họ chi, quê quán là chi;
Kiếp phong trần đều chung chịu bùn than, hoặc già có trẻ có, sang hèn đều có.
Hàng quân sĩ thấy bóng cờ ba sắc, hết thảy tay rời chân rã, tâm thần theo ngọn khói làn mây;
Bọn nhân dân nghe tiếng súng liên thanh, thôi thì phách lạc hồn xiêu, tánh mạng phó tai bay họa gió.
Trong cơn quốc biến, bao quản gian nguy;
Giữa cuộc binh đao, còn gì mệnh số.
Say một nghìn năm kêu chẳng dậy, chen chốc đồng không mông quạnh, xác tha hương nắm đất dàu dàu;
Nhắm đòi trông bốn bể biết về đâu, mơ màng đất tổ quê cha, lòng cố quốc phương trời vọ vọ.
Ôi thôi!
Mây bạc non kia;
Cát vàng cồn nọ.
Ngọn lửa đốm lấp lòe vùng cỏ ái, cỏ vô tình mấy lá ủ, vàng, xanh;
Luồng gió heo thấp thoáng nén hương tàn, hương vô vị mấy cây mờ, tắt, đỏ.
Thường […]:
Tới bữa hâm ba, nhớ năm Ất Dậu.
Chạnh thấy cảnh xiết bao cười, nói, khóc. Khóc những kẻ sống thừa vô ích, sống làm chi trời đất khéo trêu ngươi;
Gẫm sự đời thôi cũng sướng, vui, mừng. Mừng cho ai chết được thơm danh, chết trong lúc non sông còn có chủ.
May quốc thổ còn lưu dấu cũ, còn nước, còn nhân dân thành quách, hẳn chắc có ngày tự chủ, hồn anh linh dun dũi giống da vàng;
Thì quốc hồn nhớ đến người xưa, nhớ ngày, nhớ đất nước ông bà, lệ ái quốc dầm dề hòn máu đỏ.

                                                [Tràng An sao lục]

Cho đến những thập niên 20 - 40 của thế kỷ XX, biến cố kinh thành thất thủ được giới học giả, trí thức và báo chí dành sự quan tâm rất lớn. Trong khi một số tác giả khá dè dặt trong việc kết tội người Pháp, thì không ít tờ báo lại tập trung đăng tải những bài viết nhằm khẳng định tội trạng của quân đội Pháp. Trong đó, làm rõ trách nhiệm của họ đối với việc tử nạn của hàng nghìn quan, binh, dân ở kinh đô, cũng như sự thất thoát của hàng loạt cổ vật, vốn là đồ ngự dụng, tự khí thuộc sở hữu của hoàng gia. Chia sẻ quan điểm đó, thông qua việc tường thuật chi tiết lễ tế thất thủ ở Huế hằng năm, không ít người đề nghị rằng, lễ tế này không nên dừng lại ở việc “truy niệm vong linh” đơn thuần, mà nó cần được chính quyền tổ chức quy mô hơn. Qua đó để nhắc nhớ thế hệ sau không được phép lãng quên cái sự kiện vô cùng đau thương không của riêng người dân xứ Huế.

Đ.M.Đ
(TCSH449/07-2026)

------------------
1 Báo Tràng An, Những cuộc phỏng vấn đôi màng thất thủ, số 330 (17/6/1938), tr. 1.
2 Báo Tràng An, Những cuộc phỏng vấn đôi màng thất thủ, số 330 (17/6/1938), tr. 4.
3 N.T. Tố, L.T Sinh, Vua Hàm Nghi với việc Kinh thành thất thủ, Nhật Nam thư quán xuất bản, Hà Nội, 1935, tr. 103.
4 N.T. Tố, L.T Sinh, Vua Hàm Nghi với việc Kinh thành thất thủ, Sđd, tr. 103.
5 Báo Tràng An, Những cuộc phỏng vấn đôi màng thất thủ, Bđd, tr. 4.
6 Hà Thành ngọ báo, Lễ thất thủ tại kinh đô, số 2051 (08/7/1934), tr. 1.
7 Hà Thành ngọ báo, Ngày lễ thất thủ Kinh thành, số 2336 (27/6/1935).

 

 

Các bài đã đăng