Tạp chí Sông Hương - Số Đặc Biệt (T.6-26)
Nhận diện và tầm nhìn đổi mới tư duy nghệ thuật trong ‘Thi pháp tiểu thuyết hiện đại’ của Bùi Việt Thắng
10:40 | 17/07/2026

TRẦN BẢO ĐỊNH

Trên văn đàn Việt Nam hiện nay, PGS. TS Bùi Việt Thắng được bạn đọc trân trọng biết đến là nhà văn, nhà giáo, nhà nghiên cứu và đặc biệt, giới học thuật ngưỡng mộ ông như một trong những chuyên gia đặc sắc về thi pháp thuộc hai thể loại chủ chốt: tiểu thuyết, truyện ngắn - bạn đọc đánh giá đó chẳng khác gì “công nghiệp nặng” của văn đàn.

Nhận diện và tầm nhìn đổi mới tư duy nghệ thuật trong ‘Thi pháp tiểu thuyết hiện đại’ của Bùi Việt Thắng
Ảnh: tư liệu SH

Với tiểu thuyết, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đồng thời triển khai hai chiều kích tiếp cận: vừa ngấm sâu đặc trưng thể loại, tìm tòi phát hiện những vấn đề mang tính nguyên lý của thể loại; vừa thẩm thấu luận giải thực tiễn tác phẩm cũng như bám sát sinh hoạt thể loại trong bối cảnh thời đại. Thành tựu nghiên cứu tiểu thuyết của ông quy tụ trong tập tiểu luận phê bình rất công phu: Thi pháp tiểu thuyết hiện đại (Nxb. Thanh Niên ấn hành, 2019).

Nửa thế kỷ theo đuổi văn chương, PGS. TS Bùi Việt Thắng để lại dấu ấn không phai trên văn đàn Việt Nam. Trang viết của ông góp phần giúp cho độc giả thấu hiểu đặc điểm và vai trò của thể loại tiểu thuyết trong toàn cảnh bức tranh văn học hiện đại Việt Nam. Từ việc nhận diện, phát hiện vấn đề, ông vén mở tầm nhìn cũng như xác định đường hướng đổi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết Việt Nam.

1. Về vai trò của tiểu thuyết đối với sinh hoạt văn chương, sinh hoạt xã hội, Lương Khải Siêu nhận định: “Tiểu thuyết là một môn trên nhất của văn học vậy”1. Sở dĩ tiểu thuyết được đánh giá như thế, theo Lương tiên sinh, là vì bốn khả năng của tiểu thuyết: hun hấp, thấm thía, khêu gợi, đề khởi. “Nhà văn có được một cái trong bốn cái đó thì là nhà văn hào, có đủ cả bốn cái đó thì là nhà văn thánh”2. Lương tiên sinh còn nói thêm: nhà văn nào biết dùng tiểu thuyết có thể làm lợi cho người nhưng cũng có thể gây hại cho đời. Cho nên tiên sinh nói: “Đáng yêu thay tiểu thuyết! Đáng sợ thay tiểu thuyết!”3. Chính vì vai trò như thế, nhận thức lý luận về thể loại tiểu thuyết trở thành nhu cầu không thể xem nhẹ. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng nhận thấy mối quan tâm về lý luận tiểu thuyết ngày càng tăng ở Việt Nam (tr.16); và sự tham gia của ông chính là đáp ứng nhu cầu cấp bách của văn đàn bấy giờ. Về sự quan tâm đến lý luận thể loại tiểu thuyết, ông cho rằng đây là tín hiệu đáng mừng không chỉ cho giới nghiên cứu mà còn cho lực lượng sáng tạo văn học. “Những thay đổi trong nhận thức của giới nghiên cứu - lý luận - phê bình và sáng tác văn học Việt Nam trong những năm qua chính là cái đòn bẩy hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực tiểu thuyết” (tr.24)4. Là đòn bẩy cho hoạt động sáng tạo, lý luận tiểu thuyết được chuyển hóa trong tư duy nghệ thuật làm sâu sắc thêm, thậm chí có nhiều tiểu thuyết tích cực góp phần mở rộng biên độ cho thực hành lý luận phê bình.

Không chỉ phóng tầm nhìn vào thực trạng thực hành lý luận, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng nghiêm cẩn bám sát thực tiễn sáng tác. Việc nhận diện đúng đắn thực tiễn cần thiết cho việc phác thảo tầm nhìn hướng đến tương lai. Nhà nghiên cứu họ Bùi đưa ra nhận định đúng đắn, kịp thời và hữu ích cho vận hội của tiểu thuyết cũng như của văn học đương đại. Đó là, nhìn nhận về đà phát triển của lực lượng sáng tác trẻ. “Sức sống của một nền tiểu thuyết, như lịch sử đã chỉ ra, thường cậy nhờ vào lực lượng sáng tác trẻ luôn kịp thời bổ sung vào đội ngũ hùng hậu những nhà văn có khát vọng tôn vinh thể loại “máy cái” của nền văn chương mọi thời đại” (tr.39). Tại đây, nhà nghiên cứu còn nhận thấy dòng chảy liên thế hệ của lực lượng sáng tác văn học, đặc biệt sáng tác tiểu thuyết. Trao truyền, kế thừa đặt điểm tựa cho phát huy; giúp nối liền dòng mạch sáng tạo; làm sâu sắc thêm truyền thống cốt tủy của văn học nước nhà qua các thời kỳ khác nhau. Không phải sự phủ định, mà cần thiết thế hệ tiếp nối rút ra kinh nghiệm sáng tạo từ thế hệ trước để làm vốn liếng nghệ thuật cho hành trình văn học của bản thân. Không phải “chôn tiền chiến”, không phải “lời ai điếu” mà cần nhận thấy mỗi thế hệ sáng tác cần hoàn thành trách nhiệm lịch sử của thời đại mình. Cốt tủy là mỗi người cầm bút tự nhận ra trách nhiệm ngòi bút, nhận ra trách nhiệm thời đại và tự đặt mình trong dòng chảy xuyên suốt của truyền thừa văn chương nước nhà; từ đó tự kiến tạo hành trình nghệ thuật. Thái độ đoạn tuyệt có thể gây đứt gãy dòng mạch liên thế hệ của truyền thống văn học Việt Nam; nhưng thái độ bảo thủ cũng có thể gây trì trệ dòng chảy của mạch truyền thừa này.

Từ “siêu đề tài” chiến tranh, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng phát hiện vấn đề ở tầng sâu thực tiễn sáng tạo nghệ thuật. Đó là đòi hỏi cần thiết của thực tiễn văn đàn, gồm cả người cầm bút lẫn công chúng thưởng thức nghệ thuật. Từ đề tài chiến tranh, nhà nghiên cứu chỉ ra vai trò thiết yếu mang tầm vóc thời đại của những truy vấn đạo đức. “Vì sao vẫn cần thiết viết về chiến tranh dẫu cho nó đã lùi xa hơn 40 năm? Có lẽ con người hiện đại đang rất cần cái chìa khóa mở cánh cửa tìm câu trả lời cho những vấn đề về nhân cách - mối quan hệ giữa cái tôi và cái ta, tinh thần dấn thân vì nghĩa lớn, sự lựa chọn đạo đức như một ứng xử văn hóa. Cuộc sống hiện đại với cơ chế thị trường, với tâm lý hưởng thụ và tiêu dùng, với sự lên ngôi của chủ nghĩa cá nhân vị kỷ,... tất cả đang có nguy cơ làm tan rữa nhân cách. Đôi khi những bài học quá khứ lại có thể bổ ích cho việc trau dồi và nuôi dưỡng đạo đức thời hiện đại” (tr.132).

Văn chương kỳ cùng đều giúp tâm hồn con người hướng thiện và hướng thượng. Điểm tựa quan trọng cho sự hướng thượng đó: nền tảng đạo đức. Nhất là, đạo đức ấy đồng thời đáp ứng xu thế vận động của thời đại, vừa vững vàng bản sắc truyền thống giống nòi. Lịch sử văn chương Việt vốn đã cho thấy vấn đề đạo đức nằm ở trung tâm của mạch sống. Không chỉ giáo hóa, răn đời, văn học trước hết là thành lũy giữ gìn nền tảng đạo đức cho tâm hồn con người; là kim chỉ nam, là ngọn hải đăng giúp tâm hồn con người định vị giữa bão táp đời sống - như nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng nhấn mạnh - đạo đức càng cần thiết hơn nữa giữa bối cảnh đời sống cá nhân vị kỷ lên ngôi. Tiểu thuyết với khả năng “hun hấp, thấm thía, khêu gợi, đề khởi” có thể khai thác vi tế tâm hồn người, phân tích những u uẩn trong hành động sống với người và với chính mình, trở nên thể loại có ưu thế trong việc giữ gìn nền tảng đạo đức. Tiểu thuyết nên tiếp tục tham gia vào việc củng cố lập trường luân lý xã hội và chức năng giáo dục của văn học. Bằng cách đặt ra những tình thế trải nghiệm, tiểu thuyết nói riêng, văn học nói chung có thể khơi gợi và xây dựng cách ứng xử xã hội. Thực hành lý luận phê bình qua gợi mở của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng nên chăng cũng cần thiết trở lại với phê bình đạo đức; như cách tham gia tích cực vào quá trình giữ gìn phát huy truyền thống đạo đức của văn học dân tộc.

2. Với nhãn quan biện chứng trong cách nhìn về di sản văn học quá khứ (tr.12), nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đặt điểm tựa trên di sản để nhìn tới tương lai. Trong bước đi và thành tựu của thế hệ trước, nhà nghiên cứu phác thảo viễn cảnh văn đàn. Nhờ đó, nhiều bài chuyên khảo của Bùi Việt Thắng mang tầm nhìn bao quát, sâu rộng. Nhà nghiên cứu thường bỏ nhiều công sức để nối kết mạch truyền thừa di sản để từ đó xác định một điểm tựa và điểm rơi cho tầm nhìn khảo cứu, bàn luận. Nghiên cứu của ông vừa thâm trầm, uyên bác với nhiều kiến thức chuyên môn; vừa cập nhật, tươi mới và gần gũi tính đương đại. Chẳng hạn, tiểu thuyết nói riêng, văn học Việt Nam nói chung cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, được ông nhìn trong tầm nhìn toàn cầu hóa. “Thành tích và thành tựu trong lĩnh vực này chỉ mới là bước đầu và còn rất khiêm tốn. Nó cần đến một chiến lược văn hóa và một quá trình xã hội hóa toàn diện, lâu dài và bền vững. Nên biết chờ đợi cũng là một hạnh phúc” (tr.85). Từ thực tiễn văn học, ông phóng tầm nhìn đến chiến lược văn hóa, đưa ra góc nhìn đối với xuất khẩu văn học, về khả năng tham gia của văn học vào nền công nghiệp văn hóa, đồng thời nhìn nhận những ưu nhược và bối cảnh thời đại để thiết kế chiến lược. Cốt tủy hơn, nhà nghiên cứu đề xuất: cần triết lý làm điểm tựa của chiến lược văn hóa.

Trong tầm nhìn chiến lược văn hóa - văn học, nhà nghiên cứu quay trở lại với nhân tố quan trọng hơn cả: lực lượng sáng tạo. Nhìn nhận đúng thực trạng của lực lượng sáng tạo là cần thiết cho việc thiết kế tầm nhìn và chiến lược. Trước thực trạng “đuối sức” và “hụt hơi” của tiểu thuyết, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng cho rằng do tiểu thuyết là thể loại rất “trường vốn” (cần nhiều vốn sống, vốn văn hóa); hơn nữa sáng tạo tiểu thuyết lại là hoạt động khổ sai và hiện nay còn chịu nhiều sức ép từ văn hóa nghe nhìn (truyền hình, điện ảnh), do đó càng thu hẹp không gian tiếp nhận của tiểu thuyết cũng như sinh hoạt văn học nói chung (tr.139-140). Lẽ đó, người cầm bút, theo như gợi mở của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng, không chỉ trau dồi nâng cao vốn sáng tạo mà còn không ngừng cập nhật và bám sát thực tiễn biến động mau lẹ của đời sống hôm nay. Không riêng sáng tạo văn học, bất cứ lĩnh vực đời sống nào muốn đạt tới thành công đều đòi hỏi nhiều tâm huyết và sức lực. Với nghệ thuật, nhận định của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng là hoàn toàn đúng đắn: viết tiểu thuyết là hoạt động khổ sai. Sự khổ sai trong tình cảnh đơn độc mà trên hành trình đó người cầm bút phải tự giằng xé nội tâm, tự thiêu đốt linh hồn để chuyển hóa thành ánh sáng của sự sáng tạo. Một khi đã bắt đầu bước đi trên hành trình này, người cầm bút không còn đường triệt thoái. Niềm thôi thúc nội tại thường trực chính là một trong số khía cạnh của hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Và, về mặt nào đó, điều này là sự khổ sai. Chưa kể, người cầm bút còn phải đối diện với những thách thức từ bên ngoài đời sống. Xã hội đương đại với nhiều phương tiện truyền thông đại chúng có khả năng thu hút mạnh mẽ sự chú ý của cộng đồng. Khả năng tác động nhanh chóng khiến cho truyền hình, điện ảnh và nền tảng truyền thông số hiện nay bào mòn khả năng tri nhận và làm giảm năng lực suy nghĩ sâu của cộng đồng tiếp nhận. Điều này khiến cho sự đọc nghiền ngẫm trở nên khó khăn. Không chỉ vậy, từ trang viết của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng, ta có thể nhận diện thêm nhiều vấn đề nữa của thực tiễn sinh hoạt văn học hiện nay. Nhà nghiên cứu còn chia sẻ tầm nhìn về những nút thắt cần tháo gỡ và nhờ đó đề xuất khả năng đổi mới tư duy nghệ thuật.

3. Một trong số vấn đề nhà nghiên cứu nhận diện: khoảng cách và sự lệch pha giữa giới cầm bút và bạn đọc. “Phía trước của tiểu thuyết vẫn là một tâm thế của độc giả khi đón nhận một tác phẩm mới được ghi thể loại là “tiểu thuyết”. Điều đó cắt nghĩa một khoảng cách còn khá dài để tiểu thuyết có thể chiếm lĩnh độc giả ngày nay vốn rất thông minh, đôi khi khó tính, và thậm chí có thể là... đỏng đảnh. Nếu nói “tiểu thuyết là máy cái của văn chương”, thì trong hiện tại, cỗ máy cái ấy còn chưa hoàn thiện. Nó đang được tu bổ, nâng cấp để một ngày không xa khi xuất xưởng sẽ thực hiện tốt chức năng của mình - đó là nơi lưu giữ hình ảnh của lịch sử và đời sống tâm hồn con người thời đại” (tr.81).

Sinh hoạt văn học đồng thời cộng hưởng giữa hiện thực - nhà văn - văn bản - bạn đọc. Sự vận động của một trong số yếu tố này kéo theo sự biến đổi của những yếu tố còn lại. Tầm đón đợi của bạn đọc thay đổi (khắt khe hơn, thông minh hơn, đỏng đảnh hơn) đòi hỏi người cầm bút cũng vận động nâng cấp. Sự nâng cấp trước hết của người cầm bút, có lẽ, là không ngừng nâng cao tầm hiểu biết. Trong đời sống hôm nay, người cầm bút nên chăng mở rộng hiểu biết liên ngành trong việc tiếp cận thực tiễn, để từ đó nhào nặn và chuyển hóa thành chất liệu sáng tạo. Không dừng lại ở mô tả, phản ánh thực tiễn hoặc khai thác bình diện cảm xúc; người cầm bút nên tiếp tục đi sâu phát hiện yếu tính đời sống, hướng đến khái quát tầm vóc thời đại bằng những hình tượng con người tiêu biểu. Trên hành trình này, người cầm bút khám phá bản thân, nhờ đó định hình quan niệm thẩm mỹ và phong cách nghệ thuật riêng biệt. Vị trí của ngòi bút trên văn đàn chính là khả năng định hình một phong cách riêng/ mới/lạ, cũng như mở rộng thêm biên độ của dòng chảy văn học.

Thế nhưng, trước những cái mới, cái riêng, cái lạ, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng phóng tầm nhìn vừa cởi mở, vừa thận trọng. Cụ thể, với dòng tiểu thuyết “thân xác”, ông vượt qua những định kiến hẹp hòi nhưng cũng thận trọng xem xét động cơ sáng tạo và hàm lượng nghệ thuật của từng tác phẩm rõ ràng. “Viết hay về thân xác là viết về con người trong toàn bộ tính phức tạp, đa dạng và phong phú của nó. “Thân xác” con người mãi mãi là một bí ẩn thách gọi nhà văn khám phá và thể hiện trên tinh thần Chân - Thiện - Mỹ” (tr.51). Điểm tựa ngòi bút: tinh thần nhân bản. Định hướng cho sáng tạo văn học cũng như nhãn quan phê bình, không phải những thành kiến hay quy phạm, mà hơn hết ngòi bút cần xuất phát từ và hướng đến cốt tủy nhân bản. Theo đó, sáng tạo văn học lẫn thưởng thức cảm thụ văn chương nói chung, tiểu thuyết nói riêng là cách thức giúp nâng cao nhận thức và tâm hồn con người. Khiến cho con người bấy giờ trở nên người hơn. Không bị rào vuông trong quy phạm về thân xác (như là cấm kỵ), thế nhưng cũng không nên biến thân xác trở nên phương tiện câu dẫn, điều này khiến trang văn có thể trở nên dung tục hóa. Chưa kể, sự lạm dụng có thể khiến văn học không hướng thượng mà rơi vào giải tỏa ẩn ức thông thường.

Theo nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng, giới cầm bút (sáng tác tiểu thuyết) có một số hạn chế nhất định. Nếu thực trạng này được nhận thức trực diện, đúng đắn và đầy đủ sẽ khai mở những cơ hội mới cho văn đàn. “Không là quá bi quan khi nhận xét văn học nghệ thuật/ tiểu thuyết đang xa rời đời sống của nhân dân, tác phẩm thiếu sức mạnh thổi lên gió bão của đời sống. Nhà tiểu thuyết đang tỏ ra lúng túng trước sự phát triển vũ bão, phong phú và phức tạp của hiện thực đời sống. Kinh nghiệm sống cũ, tâm thế viết cũ và cả kỹ thuật cũ khiến cho nhà văn chỉ có thể viết ra những tác phẩm trung bình. Trong nghệ thuật cái trung bình đã ẩn chứa nguy cơ thất bại. Nhà tiểu thuyết thiếu một tầm triết học và văn hóa để đón đợi đời sống trong những bước đi khổng lồ, quanh co và phức tạp của nó” (tr.98).

Thực tế không thể không thừa nhận, thực hành sáng tạo nghệ thuật trong đó có văn chương biện chứng với thực tiễn đời sống xã hội. Chính tại đây, người cầm bút cần “thiện chiến” như nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã chân tình nói đến. Sự thiện chiến thể hiện ở khả năng bám sát thực tiễn và phản ánh một cách sống động thực tiễn. Nhất là, thực tiễn bấy giờ chứa đựng những xung lực nội tại mà bản thân người cầm bút vừa dấn thân vào vừa cần thiết một khoảng cách nhất định để nhìn nhận và chiêm nghiệm. “Đặc trưng của hiện thực đời sống hôm nay là ở tính chất chưa từng có của nó, các mâu thuẫn xã hội chưa bao giờ dữ dội quyết liệt như thế, cái ác chưa bao giờ tột cùng như hôm nay, con người chưa bao giờ lúng túng và bế tắc như bây giờ, chưa bao giờ tiềm tàng nhiều bất an và hiểm họa khôn lường như hôm nay, và cơ hội để thay đổi toàn diện và triệt để cũng chưa bao giờ hội đủ như hôm nay. Đó chính là mảnh đất màu mỡ của văn xuôi” (tr.135).

Lẽ đó, thực tiễn đương đại vừa là nút thắt đầy thách thức nhưng đồng thời cũng là cơ hội cho những người cầm bút có bản lĩnh. Trong chính tính phức tạp của đời sống, người cầm bút có thể tham gia bằng cách trực diện mổ xẻ và lý giải nguyên lý vận động thời đại. Nhưng công việc này đòi hỏi “tầm triết học và văn hóa”, chưa kể những thử thách gian lao trên đường dấn thân sáng tạo. Do đó, thực trạng hạn chế của giới cầm bút có lẽ cần được sự động viên, khích lệ thêm nữa. Và điều này, như chính nhà nghiên cứu có nhắc đến, có thể sẽ được thực hiện, được phát huy, được mở mang thêm bởi lực lượng sáng tạo trẻ. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng thể hiện niềm tin tưởng đối với những người viết trẻ đầy nhiệt huyết, nhạy bén và tham vọng nghệ thuật. Nhãn quan của nhà nghiên cứu càng khiến chúng ta nhận ra rõ ràng hơn vai trò quan trọng của việc phát hiện, bồi dưỡng và tạo điều kiện cho thế hệ cầm bút trẻ hiện nay và mai sau.

Một trong số khía cạnh cần tu dưỡng: nhãn quan thời đại. Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng nhấn mạnh cần trui rèn thêm tầm nhìn của người cầm bút. “Rất đáng tiếc là chưa nhiều tiểu thuyết “xông thẳng” vào “cái hôm nay” bề bộn, phức tạp, quanh co, éo le của một xã hội đang phát triển trên cơ sở những đột biến, những cái chưa từng có. Tinh thần đón đợi của nhà tiểu thuyết còn hạn chế (nhìn gần giỏi hơn nhìn xa, chỉ ra cái đang hiện hữu tốt hơn hình dung cái có thể đến “cái khả nhiên” - cái có thể xảy ra)” (tr.139). Vừa ý thức trách nhiệm của người cầm bút với thời đại vừa biểu hiện tài năng của người cầm bút, tầm nhìn thể hiện cách tiếp cận thực tiễn và hơn thế có thể góp phần thúc đẩy thực tiễn, khiến “cái khả nhiên” hiển lộ ra. Cái hôm nay đòi hỏi cách tiếp cận thường trực gắn bó với cái đương đại. Tinh thần đương đại không có nghĩa là tầm viễn kiến về hiện tại hoặc tương lai mà bỏ qua điểm tựa quá khứ. Chính trong quá khứ, cái đương đại, cái hôm nay, cái mai hậu sẽ hiển thị ra. Nhìn xa, nhìn rộng, vì thế không chỉ là về phía tương lai mà còn cả xa và rộng về trong quá khứ. Hiện tại và tương lai xa đến chừng nào thì rễ ngầm của tâm hồn càng phải cắm sâu và xa vào quá khứ chừng ấy.

Ngày nay, bối cảnh đời sống phát triển, lực lượng cầm bút thụ hưởng điều kiện sống có thể nói là tiện nghi hơn so với thế hệ trước. Điều này ấn chứng sự phát triển của đất nước. Do đó, khi nhận diện những nút thắt của sinh hoạt sáng tạo tiểu thuyết (cũng như văn chương), “cái chúng ta thiếu không phải là điều kiện vật chất, mà là văn hóa. Chúng ta đang đứng trước nguy cơ đánh mất văn hóa (mất văn hóa là mất tất cả). Một nền tiểu thuyết lớn phải đứng vững trên một nền văn hóa tương xứng. Chưa phục hồi và giữ gìn được các giá trị văn hóa cơ bản mà cha ông đã hun đúc hàng nghìn năm thì đừng nói gì đến phát triển, trong đó có văn chương/tiểu thuyết” (tr.140). Nhận định này khiến chúng ta quay trở lại với quan hệ mật thiết giữa sinh hoạt văn học và sinh hoạt văn hóa. Nhìn từ phía văn hóa, văn học nằm ở phần chánh diện của đời sống xã hội một đất nước. Nhìn từ phía văn học, văn hóa như địa hạt màu mỡ để khai thác, là chất liệu quý để nhào nặn chuyển hóa nên tác phẩm nghệ thuật. Và, văn hóa Việt Nam với bề dày lịch sử hàng ngàn năm, là kho tàng quý giá vô cùng với rất nhiều nét đẹp tươi mà thế hệ tiền nhân đã gầy dựng trao truyền. Vấn đề là bản lĩnh của người cầm bút khi du hành trong “vườn thượng uyển” văn hóa truyền thống dân tộc.

4. Từ tầm nhìn và sự nhận diện trên, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đi đến đề xuất một số giải pháp đổi mới tư duy sáng tạo tiểu thuyết và nghệ thuật nói chung. Mang tính tiên quyết, điểm tựa đổi mới tư duy sáng tạo: hồn cốt dân tộc. “Cũng nhờ Đổi mới mà văn học Việt Nam thông thương được thế giới. Trong quá trình giao lưu và hội nhập thì văn hóa, văn học là sứ giả thiện chiến nhất mang đến cho nhân loại tiếng nói chung vì hòa bình và hữu ái, hữu nghị giữa các dân tộc. Trống Đồng, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi đã là những “sứ giả văn hóa” Việt Nam đến với bạn bè thế giới” (tr.87). Trong nhãn quan của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng, đổi mới không có nghĩa tiến vượt qua cái truyền thống vốn có, mà ngược lại còn phải quay trở về sâu sắc hơn nữa vào vốn liếng văn hóa truyền thống của dân tộc. Đổi mới hàm nghĩa sự đương đại hóa những giá trị truyền thống, tham gia tu bổ, bồi đắp và gia cố thêm giá trị định vị bản sắc văn hóa Việt Nam, hun đúc thêm căn tính văn học Việt Nam. Trong đó, văn học dân tộc - đất nước vừa hài hòa văn học khu vực - thế giới, vừa bộc lộ căn tính giống nòi đậm đặc đẹp tươi. Như cách mà nhiều văn thi sĩ trên thế giới đã đóng góp nét đẹp riêng của văn học nước họ vào kho tàng văn học thế giới. Hòa nhập như thế không những không làm phai lạt, mà còn càng làm sâu sắc thêm dấu ấn riêng của văn học nước nhà.

Bên cạnh đó, một đường hướng nữa trên quá trình đổi mới tư duy sáng tạo tiểu thuyết: thắt chặt mối quan hệ giữa người cầm bút và người tiếp nhận. Nhà văn và chủ thể sáng tạo nói chung cần lắng nghe và cộng hưởng với nhu cầu bạn đọc, nhu cầu thời đại. “Lý thuyết tiếp nhận nghệ thuật làm chúng ta sáng ra nhiều điều. Trước đây người ta nghiêng chú ý về mối quan hệ giữa nhà văn và hiện thực đời sống, nhà văn và tác phẩm. Bây giờ người ta nghiêng chú ý về mối quan hệ giữa tác phẩm và độc giả. Công chúng nghệ thuật nói chung, công chúng văn học nói riêng, đã có những biến đổi hết sức quan trọng, thực tế này đòi hỏi nhà văn cầm bút sáng tác phải ngay từ đầu đặt câu hỏi “người đọc của mình là ai?”” (tr.91).

Sự nhận thức về người đọc tiềm ẩn bấy giờ trở nên khả lực chi phối mạnh mẽ thực hành sáng tạo của người cầm bút. Lẽ cố nhiên, tầm đón đợi của bạn đọc đã thay đổi thì tầm sáng tạo của người cầm bút cũng phải nâng cấp. Đường hướng nâng cấp cũng nên thận trọng dựa trên điểm tựa nhất định. Điểm tựa này giúp làm định hướng cho con đường sáng tạo, tránh những lầm lạc và sa ngã ngòi bút. Như vậy điểm tựa nào vững chắc cho người cầm bút bám vào trên bước đường nâng cấp? Điều này đưa chúng ta trở lại nhận định trên của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng. Điểm tựa trước hết: tinh thần dân tộc. Sau nữa, ngòi bút hướng đến giá trị phổ quát hơn; điểm tựa đó là: tinh thần nhân bản.

Một lần nữa, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng nhắc lại vai trò phát triển nâng cao lực lượng cầm bút. Trong đó, để phát triển chất lượng của đội ngũ cầm bút, ông kêu gọi chủ thể sáng tạo trau dồi thêm vốn văn hóa, ông nhấn mạnh: “văn chương thời kỳ nào cũng cần một đội ngũ người cầm bút “thiện chiến” (hiểu là bản lĩnh sống, bản lĩnh nghệ thuật và tầm vóc văn hóa)” (tr.131). Sự phát triển trước hết là sự phát triển về con người. Nhân tố con người đóng vai trò then chốt, cùng với lực lượng sáng tác sau nữa là cộng đồng độc giả. Nhưng có lẽ người cầm bút là lực lượng cần dịch chuyển, thay đổi trước hết.

5. Qua tập tiểu luận phê bình Thi pháp tiểu thuyết hiện đại, bạn đọc cảm nhận tâm huyết đáng trân trọng của nhà nghiên cứu, nhà văn, nhà giáo Bùi Việt Thắng. Trước sau như một, ông ấp ủ mong muốn góp phần phát triển sinh hoạt văn học nước nhà, đặc biệt thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Với thể loại tiểu thuyết - một thể loại được gọi là “máy cái”, được gọi là nền “công nghiệp nặng” của văn đàn - công sức khảo cứu của ông rất đáng được tôn vinh hôm nay và mai sau.

Thi pháp tiểu thuyết hiện đại của PGS. TS Bùi Việt Thắng đạt phong cách chuyên khảo vừa khái quát vừa chi tiết và sống động. Nghiên cứu của ông làm rõ được nhiều những vấn đề khái quát cho cả lý luận phê bình lẫn lịch sử văn học, đồng thời soi chiếu từng chi tiết tác phẩm và phạm vi khảo cứu rộng rãi khiến trang viết của ông mang tỷ trọng thông tin đáng nể.

Thi pháp tiểu thuyết hiện đại không chỉ hữu ích, tập tiểu luận phê bình này mang vác ước vọng nhiều gợi mở, nhiều hiểu biết đến giới lý luận phê bình và những bạn đọc quan tâm đến lý luận thể loại tiểu thuyết. Vì vậy, nhận định đóng góp của nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng không chỉ là bề nổi mà đích thực, đóng góp ấy lộ rõ lòng nhiệt thành ở tầng sâu - rất sâu của sinh hoạt văn học.

T.B.Đ
(TCSH61SDB/06-2026)

----------------------
1 Lương Khải Siêu (1929). Thời bệnh luận - Quyển nhất (Thiên Túng dịch). Quốc Hoa tùng san. Hanoi: Imp. Long-Quang, tr.8.
2 Lương Khải Siêu (1929). Thời bệnh luận - Quyển nhất (Thiên Túng dịch). Sđd, tr.14-15.
3 Lương Khải Siêu (1929). Thời bệnh luận - Quyển nhất (Thiên Túng dịch). Sđd, tr.15.
4 Những trích dẫn này đều lấy từ cuốn "Thi pháp tiểu thuyết hiện đại" - Nxb. Thanh Niên, 2019.

 

 

Các bài đã đăng
Chạm vào Huế (17/07/2026)
Huế xin chào (13/07/2026)