Góc Hoài niệm
Xí nghiệp quân giới Huế ngày ấy
15:30 | 11/06/2026

NGÔ VĂN ĐỐI
             Hồi ký

Cách mạng Tháng tám thành công, nhưng bọn phản động trong nước còn lắm mưu toan, bọn xâm lược bên ngoài vẫn dòm ngó lăm le, quần chúng đòi hỏi cần được trang bị để bảo vệ chính quyền còn non trẻ của mình. Đặc biệt mặt trận Huế xa trung ương, việc tự trang bị cho mình trở nên cấp thiết. Chính do yêu cầu khẩn cấp ấy xí nghiệp quân giới Huế ra đời.

Xí nghiệp quân giới Huế ngày ấy
Tác phẩm "Hương Giang" - khắc gỗ của Võ Văn Hậu

Những người công nhân quân giới đầu tiên của địa phương chúng ta là những công nhân cách mạng từ Nhà máy vôi Long Thọ, Nhà máy điện, Nhà máy Hỏa xa, Nhà máy Nước, theo yêu cầu của Đảng đã tập hợp nhau lại, vốn liếng đầu tiên của quân giới địa phương là mấy cái kìm, mấy cây búa của cá nhân từng người góp lại, làm chung.

Bò Ghe là nơi khai sinh Ngành quân giới Huế. Tại đây bễ lò rèn được dựng lên. Những sản phẩm đầu tiên được xuất xưởng là những cây mã tấu, mác lào, dao găm. Lúc này anh em đã làm lựu đạn, không phải lựu đạn bằng gang mà bằng đất. Lấy quả lựu đạn thật làm mẫu, đúc khuôn. Khuôn dập ra những quả lựu đạn giống như thật, bằng đất. Không tính đến hiệu quả, sức nổ, hiệu quả chính của nó là đeo vào dây lưng bóng dáng vũ khí tự tạo nên uy thế ban đầu.

Khi Xí nghiệp quân giới đã chuyển lên Ngọc Lân - Phú Lâm vẫn tiếp tục sản xuất vũ khí thô sơ, không có súng thì làm súng gỗ. Hình dáng giống y như hệt khẩu súng, song súng có hai cánh mạnh như nỏ, cùng bắn bằng mũi tên như nỏ, có đường ngắm đàng hoàng. Ưu thế của loại súng này là không gây tiếng nổ, giữ bí mật được nơi mai phục, mà vẫn sát thương lớn, nhất là khi có mũi tên tẩm thuốc độc. Kẻ thù từng nhiều phen ớn tận gáy loại nỏ cải tiến này.

Công việc chính của xí nghiệp trong giai đoạn manh nha tập trung vào sửa chữa súng: súng cũ của Pháp, trang bị cho xã hội phong kiến Nhà Nguyễn, súng của Nhật bàn giao cho đồng minh tất cả bây giờ trở về tay Cách mạng, cây thì cũ cà tịch cà tang, cây thì hỏng hóc. Các chiến sĩ mới rời tay cày, tay bút cầm súng đang rất ngỡ ngàng, hỏng hóc một chút đã lúng túng phải nhờ bàn tay quân giới.

Hai ông Tôn Thất Nhẫn, Tôn Thất Đản vốn là thợ sửa chữa súng lục, súng máy của Pháp đã trở thành những cố vấn tích cực cho quân giới địa phương bấy giờ. Anh em công nhân vốn là những tay thợ khéo, lại thêm nhiệt tình cách mạng cao, nên học nghề rất nhanh, chẳng mấy chốc đã trở thành công nhân quân giới thực thụ.

Bốn cơ sở công nghiệp tại Huế rất có cảm tình với đơn vị quân giới Cách mạng. Quân giới cần phải trang bị lại máy móc nào, các nhà máy đều bằng cách này, cách khác gởi lên cho đầy đủ. Xí nghiệp quân giới Huế trưởng thành rất nhanh.

Thời gian xí nghiệp quân giới đóng tại Ngọc Lân, An Đô, đã bắt đầu sản xuất lựu đạn thật; Quần chúng phá kho thuốc của Pháp tại Tàng Thơ gánh lên chiến khu. Cần gang, quần chúng lượm lưỡi cày, soong gang hỏng... khuân vác từng bao đóng góp cho Cách mạng. Người dân Phường Đúc trở thành công nhân đúc vỏ lựu đạn; Xí nghiệp tự dập được kíp đồng, quấn dây cháy chậm làm ngòi cho lựu đạn. Để đảm bảo hiệu quả, chiến trận chất lượng vũ khí phải tốt. Lựu đạn làm xong đều được cho nổ thử, vì công việc làm hầu hết thủ công, nên loại lựu đạn đầu tiên kém phẩm chất. Có quả do quấn dây cháy chậm không chặt, lửa từ nụ xòe phun thẳng xuống kíp, chưa kịp ném, lựu đạn đã nổ ngay trên tay. Có quả do thuốc nấu từ thủy ngân, công thức chưa được hoàn chỉnh, khi ném lựu đạn xịt ngòi.

Từ những thất bại ban đầu ấy, do ý thức làm chủ của tập đoàn công nhân Xí nghiệp quân giới tốt, anh em đã luôn luôn rút kinh nghiệm để vũ khí ngày càng hoàn hảo. Dây cháy chậm cắt dài 4cm, bảo đảm cho thời gian đúng 6 giây từ tay người chiến sĩ quăng tới trước mặt kẻ thù. Cách thử nghiệm cũng thận trọng hơn. Anh em đào hai hầm cá nhân cạnh nhau. Một hầm đặt lựu đạn, một hầm người thử ngồi, cầm dây rút chốt, đồng thời bấm đồng hồ đo thời gian. Cách này bảo đảm theo dõi hiệu quả vũ khí chặt chẽ và đồng thời rất an toàn trong khi thử nghiệm.

Những mẻ lựu đạn đầu tiên của Xí nghiệp quân giới đã ra đời như thế. Từ đó, song song với cục diện chiến trường, ngành quân giới Huế cũng trưởng thành từng ngày.

Vừa đáp ứng đòi hỏi trước mắt của cách mạng, vừa tính chuyện lâu dài về sau, Xí nghiệp Phú Lâm vẫn đóng tại khu căn cứ An Đô, Xí nghiệp Ngọc Lân chuyển xuống đồng bằng, đóng bên Sông Bồ thuộc địa phận huyện Quảng Điền. Hai trung đoàn 101 và 95 đòi hỏi trang bị vũ khí ngày càng nhiều vì bọn xâm lược Pháp đã quay lại gây hấn ở Nam bộ và rục rịch kéo ra Miền Trung, xí nghiệp quân giới cũng phát động phong trào thi đua yêu nước làm việc ngày đêm cung cấp thêm khí giới cho quân đội.

Rồi toàn quốc kháng chiến.

Chiến cuộc bùng nổ khắp nơi.

Rồi năm 1946 mặt trận Huế bị vỡ. Thực dân Pháp dùng quân càn quét hòng phá vỡ phong trào cách mạng ở Trị Thiên. Cả hai Xí nghiệp quân giới ở An Đô và Quảng Điền đều phải cấp tốc vận chuyển lên Khe Trò, Khe Trái tạm lánh những lúc gian nan.

Cũng có thể nói đây là giai đoạn cách mạng ở Trị Thiên khó khăn cực kỳ. Trước hoàn cảnh Xí nghiệp quân giới cũng ở trong tình trạng đó. Trước hoàn cảnh phức tạp trước mắt chính quyền cách mạng quyết định những người công nhân giỏi công tác chính trị, trở về địa phương làm công tác vận động quần chúng, một số chuyển ra Nghệ An chuẩn bị cho kế hoạch phát triển của ngành Quân giới sau này.

Toàn bộ máy móc chuyển lên được chôn cất giấu kỹ. Đúng như dự định, chỉ 1 năm sau, năm 1947 cục diện cuộc kháng chiến trường kỳ đã bước sang giai đoạn tấn công mới, đ/c Nguyễn Chí Thanh, phân khu trưởng phân khu Trị Thiên quyết định tổ chức lại Xí nghiệp quân giới. Những công nhân đi phong trào được gọi về, đồng chí Phan Lục lại được Đảng phân công lo toan Xí nghiệp Quân giới mới lấy tên là Phạm Hồng Thái.

Lán trại được dựng lên. Dần dần các phân xưởng đúc nguội, phân xưởng làm mìn, đạn ra đời. Xí nghiệp Quân giới Phạm Hồng Thái vẫn đứng chân ở Khe Trái.

Phía dưới đồng bằng địch phong tỏa rộng, chúng tiếp tục mở các mũi tiến quân lên miền núi, thọc sâu vào hậu phương của chúng ta. Cách mạng đang còn gian truân, Xí nghiệp Quân giới cũng cùng trong bước đường chông gai. Có thời kỳ suốt 6 tháng trời phải đào củ rừng trộn cơm. Khi có miếng cơm lại bị gạo mốc, thối. Nấu được nồi cơm, phải xới ra cho bay hết mùi mới nuốt được. Thiếu gạo rồi thiếu muối, ăn lạt chân tay mệt mỏi, rã rời. Khi có hạt cơm, hạt bắp, người nào người nấy bưng chén cơm ra đứng bên cây bưng, ngắt lá bưng thay cho thức ăn. Có công nhân vợ con không chịu được sự o ép của địch, đã theo chồng lên rừng. Đó cũng là một gánh nặng của Xí nghiệp; Nhưng anh em vẫn đùm bọc nhau, chia sẻ từng miếng ăn khi đói.

Vậy đó. Nhưng ý chí của những người công nhân trong đội ngũ Cách mạng không hề nao núng. Thiếu thuốc mồi thì đốt xoan lấy than, tán nhỏ, tìm vào rừng sâu kiếm phân dơi làm thuốc. Địch thả thủy lôi ở cửa sông, bờ biển, anh em công nhân chia nhau kiếm tìm, phá thủy lôi, gánh hàng chục gánh thuốc lên chiến khu làm mồi. Những quả bom địch ném xuống bị lép, anh em tháo đầu nổ, cắt bom lấy thuốc, cũng có lần không may, do thiếu kinh nghiệm đã làm bom nổ, cả 4 người tháo bom đều bị hy sinh.

Song anh em công nhân không hề nản lòng, thiếu gang làm vỏ mìn, vỏ lựu đạn, anh em công nhân nghĩ ngay tới đường ống dẫn nước từ Vạn Niên về thành phố Huế, thế là từng tốp công nhân về vận động quần chúng, đêm đêm đào đất lần theo đường dẫn nước, phá ống, đập vỡ thành từng mảng chuyển lên chiến khu.

Sáng tạo cũng từ khó khăn mà ra. Những quả pháo lép của địch được thu lượm về hết, tháo hạt nổ của nó, thay vào đó kíp mìn. Sản xuất loại mìn này không vất vả. Nhưng hiệu suất lại cao; chỉ cần lòng dũng cảm. Nơi kíp mìn có khuy cài chốt, chốt mìn được nối vào một đầu dây. Đầu dây bên kia, cách xa quả mìn chừng hai chục mét, đặt vào tay người chiến sỹ. Anh giấu mình cho thật kín, đợi xe địch. Đúng lúc xe lăn bánh đến nơi chôn mìn, chỉ cần giật dây, bật chốt, kim hỏa đập xuống mìn nổ xe nhào. Sau này mìn đánh xe có được cải tiến thông minh hơn thay vào chốt mìn là chiếc bóng đèn mới đã được khui hết cách cách điện ra, dồn chặt vào trong đó thuốc mìn loại mạnh. Khi cần cho mìn nổ, chỉ cần chập pin nơi đầu dây kia. Dây tóc đầu này bật sáng, lửa ở đó lập tức đốt cháy khối thuốc tạo nên tiếng nổ rung trời lật xe, phá đường.

Kỳ công nhất là các loại mìn xí nghiệp Quân giới Phạm Hồng Thái sản xuất dùng riêng cho các chiến sĩ biệt động đánh những trận thọc sâu vào ngay chính sào huyệt địch. Đó là những quả mìn đặt trong hộp sữa, trong bình mực, trong cả những chiếc bút máy nhỏ chỉ vừa bằng ngón tay. Các công trình này đòi hỏi kỹ thuật hẹn đúng từng giờ, từng phút trong quả mìn phải chính xác. Các công trình này đòi hỏi kỹ thuật ngụy trang rất cao. Có như vậy đón thời cơ, đón những tình huống đã được tính toán chi li của các chiến sĩ biệt động nội thành. Những cuộc ám sát những tên ác ôn đầu sỏ, như thế tạo nên sự hoang mang như một thứ bệnh dịch trong ý chí quân thù, pha loãng lòng tin đốt thui tinh thần và chân lý của chúng.

Kẻ thù cũng đã phát hiện ra sự có mặt của quân giới Phạm Hồng Thái ở chiến trường, chúng dùng máy bay trinh sát rà tìm Xí nghiệp khắp trên rừng xanh. Thời gian này, số công nhân chưa đông, việc làm lán trại, vận chuyển, máy móc, tiếp vận nguyên vật liệu cho Xí nghiệp phải dùng tới lực lượng dân công. Địch đã gài một tên gián điệp theo đạo Thiên Chúa giáo vào đội dân công đi xây dựng cho quân giới ấy. Tên này, theo lệnh chủ đã bí mật, trong khi lợp nhà đặt một chiếc gương soi lên đỉnh nóc làm tín hiệu. Chiếc "Bà già'' trinh thám chấm đúng tọa độ từ chiếc gương phản chiếu, gọi khu trục lên thả bom, Xí nghiệp bị một phen hoảng hồn. May mà lực lượng bảo vệ nhà máy đã phát hiện ra thủ phạm.

Cũng có lần xưởng làm đạn ca nông bị máy bay dẫn đường từ bờ sông Bồ vào, chúng định chụp một vố to; nhưng ban lãnh đạo Xí nghiệp đã kịp thời di chuyển chỗ ở, nên khi chúng tấn công thì đã tốn sức nhảy vào chỗ không người.

Người công nhân quân giới nếm đủ thứ ác liệt, kẻ thù săn tìm từng ngày. Đói cơm lạt muối cũng rụng tóc, sốt rét cũng rụng tóc. Thuốc bom đạn không thật sự sản xuất trong một xí nghiệp có điều kiện kỹ thuật tốt nên sự sống còn cũng phải chấp nhận những hoàn cảnh cá biệt phải thiệt thòi. Song ý chí tự do, lòng yêu nước đã giúp họ vượt qua tất cả, miễn là chiến thắng. Những tin thắng trận suốt từ Việt Bắc tới Đồng Tháp Mười dội về và ngay cả địa phương Hói Mít, Thanh Hương, Kiến Giang dội về càng nức lòng.

Một sáng kiến mới rất được hoan nghênh của quân giới Phạm Hồng Thái là Xí nghiệp đã thành lập các tổ quân giới lưu động về công tác trực tiếp tại các trung đoàn của sư 325. Hỏng súng chữa súng, mìn ẩm sửa mìn, kà lê, kìm búa cùng chiến trường ra trận. Trước những trục trặc phải mang vác lên tận rừng sâu vừa tốn sức, vừa mất thời gian. Nay cần kịp thời cho cả từng trận đánh, cho cả từng cá nhân. Mặt khác, Xí nghiệp còn tách riêng cả một phân xưởng hoàn chỉnh chuyên lo cho đội ngũ dân quân du kích, không những thế còn rèn cả rìu rựa cho đồng bào Miền núi để xây dựng hậu phương ngay tại rừng xanh.

Phía Bắc chiến thắng Tây Bắc rồi Biên giới nối với hậu phương lớn được mở ra. Xí nghiệp Phạm Hồng Thái đổi tên thành Xí nghiệp quân giới Văn Thăng. Văn Thăng Là người chiến sĩ quân giới trong đợt vận chuyển máy móc lên rừng gặp địch chặn đường anh đã cùng đồng đội chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ tài sản của Cách mạng. Tinh thần, ý chí, nghị lực của anh đã trở thành quyết tâm của xí nghiệp. Xí nghiệp quân giới Văn Thăng có tên từ đó suốt cho tới cuộc kháng chiến chín năm thắng lợi hoàn toàn.

Đến năm 1950, số công nhân quân giới Văn Thăng có lúc đã lên tới 120 người. Tổ chức trong Nhà máy đã đi vào quy củ. Xưởng nguội riêng, xưởng đúc riêng; đặc biệt xưởng chế tạo vũ khí nghiêm chỉnh nhất. Mỗi công nhân làm trong một gian phòng có cấu trúc kín đáo, an toàn. Sau bàn làm việc có hầm, nước, bàn làm việc có hầm lỡ khi xẩy ra tai nạn vũ khí, lập tức đẩy chúng xuống hầm đất trước mặt, tính mạng người công nhân được giữ gìn như một của quý của Cách mạng như thế.

Đạn ca nông từ đây mà ra.

Mìn, lựu đạn từ đây kĩu kịt tới các mặt trận.

Xí nghiệp sản xuất được cả ĐKZ, SKZ cho chiến trường áp đảo được hỏa lực địch.

Đến như khẩu Bô Pho của chúng lại quất đạn vào chính chúng thì thật là điều bất ngờ. Bộ đội nhận thấy đã đến thời kỳ ta phải có hỏa lực mạnh, các anh đã chặn đoàn tàu chở vũ khí của địch trên đoạn đường phía Bắc sông Mỹ Chánh để chiếm cho bằng được khẩu Bô Pho. Bô Pho gắn rất chắc trên nóc tàu. Thời gian không cho phép bộ đội chỉ lấy được về cho quân giới một chiếc nòng. Bác Xướng được trao cho nhiệm vụ phục chế lại nó, cũng vẫn chiếc lò rèn hàng ngày, đe, búa thủ công, tổ bác Xướng đã tạo cho nó có một bộ đe mới.

Trận khẩu Bô Pho lập chiến công đầu tiên là trận đánh đồn Phổ Lại. Địch xây lô cốt cao để dùng tầm cao khống chế ngay vùng đai xung quanh nó. Bô Pho đã bò tới. Không có máy ngắm một bộ phận đã đi về phía bên kia lô cốt đốt lửa cho Bô Pho, không có máy ngắm phải ngắm qua nòng rà tìm mục tiêu. Đêm ấy chỉ bằng một phát đạn bắn rất chính xác chặt gãy lô cốt Phổ Lại. Từ đó cả vùng Thừa Thiên chúng không dám xây lô cốt cao nữa, phải hạ xuống thấp tè trên mặt đất, chấm dứt hẳn thời chiếm ưu thế trên cao của chúng, Bô Pho đã tung hoành một thời gan góc cùng chiến sĩ 325.

Xí nghiệp Văn Thăng đã có vị trí xứng đáng của mình như thế trong kháng chiến chín năm.

Người chiến sĩ quân giới trẻ nhất của Văn Thăng ngày ấy đến bây giờ cũng đã trên 50 tuổi song họ vẫn trẻ trung trong tiềm thức thủa đã sống đầy dũng cảm và khát vọng như vậy.

Mỗi lần có dịp gặp lại nhau nhắc hai chữ Văn Thăng, lại sống dậy niềm tin và niềm tự hào. Cả ba trung đoàn của sư đoàn 325, Trung đoàn 101, Trung đoàn 18, Trung đoàn 95, nhắc đến Văn Thăng, như nhắc đến người anh em sinh đôi của mình đã từng chia ngọt xẻ bùi, đứng vững và trưởng thành trên dải đất hẹp Miền Trung gan góc và đầy tình người này.

N.V.D
(TCSH63/05-1994)

 

 

Các bài đã đăng
Cố đô Hoa Lư (05/12/2025)