SỰ KIỆN
Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác dân vận
14:37 | 19/06/2026

NGUYỄN VĂN TOÀN

Trong tác phẩm “Dân vận” viết vào ngày 15/10/1949 đăng trên báo Sự thật số 120, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”1.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác dân vận
Ảnh: tư liệu

Người cũng chỉ rõ: “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”2. Để làm tốt công tác dân vận, Người nêu rõ trong tác phẩm “Dân vận” rằng: “Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”3.

Công tác dân vận của Đảng với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để xây dựng được chủ nghĩa xã hội thì phải dựa vào nhân dân. Người chỉ rõ: “Chủ nghĩa xã hội chỉ có thể xây dựng được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu người”4. Do đó, nếu chế độ xã hội chủ nghĩa là một cái cây xanh tốt thì nhân dân chính là gốc rễ vững bền. Người khẳng định: “Gốc có vững cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”5.

Năm 1999, nhân 50 năm ngày Bác Hồ viết bài báo “Dân vận” (15/10/1949 - 15/10/1999), Bộ Chính trị đã quyết định lấy ngày 15/10/1930 là “Ngày truyền thống công tác dân vận của Đảng”; đồng thời, lấy ngày 15/10 hằng năm là “Ngày dân vận của cả nước” để đẩy mạnh việc học tập và thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác dân vận. Năm 2009, trên cơ sở tổng kết thực tiễn các mô hình, điển hình “Dân vận khéo”, Ban Dân vận Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương) chính thức phát động phong trào thi đua “Dân vận khéo” trong phạm vi cả nước.

Qua 16 năm phát động và thực hiện trên cả nước (2009 - 2025), có thể khẳng định, phong trào thi đua “Dân vận khéo” là chủ trương đúng đắn, thiết thực, hợp lòng dân; đồng thời, là phương thức quan trọng trong công tác vận động quần chúng đồng lòng thực hiện hiệu quả chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phong trào thi đua “Dân vận khéo” đã thực sự trở thành phong trào thi đua yêu nước quan trọng, góp phần huy động nguồn lực to lớn của nhân dân để đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Trong bài viết “Quyết tâm xây dựng Đảng vững mạnh, nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (4/8/2024), Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ: “Chúng ta tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh; kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước chân chính với truyền thống tốt đẹp, khí phách và tinh hoa của dân tộc, không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; với bản lĩnh, kiên định lý tưởng cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên; được Nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, công cuộc đổi mới đất nước nhất định giành thắng lợi to lớn, Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, Nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, ấm no, Đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh, hùng cường, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện thành công mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra và di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại cũng là ước vọng của toàn dân tộc “Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”6...”7.

Công tác dân vận của Đảng thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám

Vào ngày 18/2/1930, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Lời kêu gọi gửi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào bị áp bức, bóc lột. Tiếp đó, từ ngày 14 đến ngày 31/10/1930, tại Hồng Kông, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất của Đảng đã thông qua Luận cương chính trị, Điều lệ Đảng và các án nghị quyết về công nhân vận động, nông dân vận động, cộng sản thanh niên vận động, phụ nữ vận động, quân đội vận động, vấn đề cứu tế và đồng minh phản đế. Nghị quyết Trung ương lần thứ nhất chỉ rõ: “Trong các Đảng bộ thượng cấp (từ thành và tỉnh ủy trở lên) phải tổ chức ra các Ban chuyên môn về các giới vận động”. Từ tháng 10/1930, hệ thống Ban chuyên môn về các giới vận động của Đảng bao gồm: Công vận, Nông vận, Thanh vận, Phụ vận, Quân đội vận; Mặt trận phản đế được ra đời làm nhiệm vụ tổ chức, tập hợp lực lượng, giáo dục, vận động quần chúng nhân dân tham gia các phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trải qua các cao trào cách mạng như: Cao trào cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ Tĩnh; Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939); Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945), thực hiện công tác dân vận, Đảng ta ngày càng trưởng thành và phát triển, ngày càng gắn bó máu thịt với nhân dân.

Trong Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945), công tác dân vận của Đảng có một tầm quan trọng đặc biệt. Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương do Chủ tịch Hồ Chí Minh triệu tập diễn ra tại lán Khuổi Nặm, Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Hội nghị khẳng định nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng là đấu tranh giải phóng dân tộc và quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất chống Pháp - Nhật lấy tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh). Các đoàn thể tham gia Việt Minh gồm Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Nhi đồng cứu quốc…

Trong tác phẩm Lịch sử nước ta (1943), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi toàn dân tham gia Mặt trận Việt Minh để khôi phục độc lập dân tộc: “Hỡi ai con cháu Rồng Tiên/ Mau mau đoàn kết vững bền cùng nhau”8.

Đến giữa năm 1945, Mặt trận Việt Minh đã có 5 triệu hội viên. Sự phát triển của Mặt trận Việt Minh đã tạo điều kiện cho Đảng ta xây dựng các căn cứ địa cách mạng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng, tạo điều kiện cho khởi nghĩa từng phần tiến tới tổng khởi nghĩa khắp cả nước khi thời cơ đến.

Ngày 18/8/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi Thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa. Người nhấn mạnh: “Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta... Tiến lên! Tiến lên! Dưới lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên!”9.

Công tác dân vận của Đảng với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chính quyền cách mạng của ta lúc đó phải đối mặt với muôn vàn khó khăn. Để giải quyết tình thế trên, Đảng và Nhà nước ta đã dựa vào dân và khơi dậy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ngày 4/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chính phủ cách mạng lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký sắc lệnh số 04 thành lập “Quỹ Độc lập”. Sắc lệnh nêu rõ: “Lập tại Hà Nội và các tỉnh trong cả nước một quỹ thu nhận các món tiền và đồ vật mà nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ để ủng hộ nền độc lập của Quốc gia”10. Trong khuôn khổ “Quỹ Độc lập”, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Chính phủ cách mạng lâm thời đã đề ra chương trình tổ chức “Tuần lễ vàng” từ ngày 17 đến ngày 24/9/1945, kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân, nhất là tầng lớp thương nhân trong xã hội. Trong “Tuần lễ vàng” các tầng lớp nhân dân cả nước đã quyên góp được 370kg vàng và 20 triệu đồng Đông Dương. Lượng tiền, vàng mà nhân dân cả nước ủng hộ cho “Quỹ Độc lập” tại “Tuần lễ vàng” là tiền đề tài chính quan trọng giúp Đảng và Chính quyền cách mạng tháo gỡ tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Đồng thời, đây còn là cơ sở để cuối tháng 1/1946 chúng ta phát hành đồng tiền Việt Nam11.

Ngày 3/9/1945, tại Bắc Bộ phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ. Người cho rằng vấn đề cấp bách đầu tiên trong sáu “vấn đề cấp bách hơn cả” là “nhân dân đang đói”. Người đề nghị Chính phủ phát động một chiến dịch tăng gia sản xuất. Người cũng đề nghị: “Trong khi chờ đợi ngô, khoai và những thứ lương thực phụ khác, phải ba bốn tháng mới có, tôi đề nghị mở một cuộc lạc quyên. Mười ngày một lần, tất cả đồng bào chúng ta nhịn ăn một bữa. Gạo tiết kiệm được sẽ góp lại và phát cho người nghèo”12. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên khắp cả nước, nhân dân ta lập “Hũ gạo cứu đói”, tổ chức “Ngày đồng tâm”. Từ đó hàng vạn tấn gạo đã được nhân dân cả nước đóng góp, chia sẻ với đồng bào đang chịu thảm họa của nạn đói. Chính quyền và nhân dân tất cả các địa phương cũng ra sức cải tạo đất công cộng còn trống như sân bãi, vỉa hè, bờ đê để trồng trọt, nhất là hoa màu ngắn ngày. Cùng nhiều biện pháp khác, nạn đói cơ bản đã được giải quyết. Trong Lễ Kỷ niệm một năm độc lập, Quốc khánh diễn ra vào ngày 2/9/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp tuyên bố: “Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kỳ công của chế độ dân chủ”.

Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ cách mạng lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ hơn 90% đồng bào chúng ta mù chữ và do đó Người đã đề nghị mở một chiến dịch để chống nạn mù chữ. Với phong trào Bình dân học vụ, trên 2,5 triệu người đã biết đọc, biết viết. Đây là cơ sở để Đảng và Chính phủ ta thực hiện tiếp theo những lớp bổ túc văn hóa đã xóa mù chữ.

Ngày 23/9/1945, được quân Anh giúp đỡ và sự yểm trợ của quân Nhật, 6000 quân Pháp đánh úp trụ sở Ủy ban nhân dân Nam Bộ và cơ quan tự vệ thành phố Sài Gòn, mưu toan chiếm lại miền Nam nước ta trong vòng một tháng, làm bàn đạp chiếm lại cả Đông Dương. Ngay trong sáng 23/9/1945, Xứ ủy Nam Bộ và Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ đã cấp tốc họp, chủ trương kiên quyết kháng chiến. Ngày 26/9/1945, qua Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào Nam Bộ, khẳng định quyết tâm kháng chiến của Trung ương Đảng, Chính phủ và nhân dân cả nước ta. Ngay ngày hôm đó, Chính phủ đã thành lập các Đoàn quân Nam tiến. Quỹ Nam Bộ kháng chiến cũng ra đời. Nhân dân quyên góp tiền bạc, quần áo, gạo, thuốc men động viên, cổ vũ đồng bào Nam Bộ kháng chiến. Vào ngày 30/9/1945, thực dân Pháp trong thế túng quẫn phải nhờ đại diện của quân Anh xin điều đình với Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Không quân đội nào, không khí giới nào có thể đánh ngã được tinh thần hy sinh của toàn thể một dân tộc”13.

Trong kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác dân vận. Người đã căn dặn cán bộ, đảng viên trong lần về thăm Thanh Hóa năm 1947 rằng: “Phải đem hết sức dân, tài dân, của dân làm cho dân”14.

Trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước; xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam (1954-1975), công tác dân vận phát triển trên các lĩnh vực, các ngành, các giới một cách toàn diện.

Thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến kiến quốc chứng minh tầm quan trọng của công tác dân vận của Đảng. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”15.

N.V.T
(TCSH448/06-2026)

 

---------------------
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 700.
2 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, sđd, tr. 700.
3 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, sđd, tr. 700.
4 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 494 - 495.
5 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, sđd, tr. 410.
6 35 năm thực hiện Di chúc của Hồ Chủ tịch, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004, tr.40.
7 Báo Nhân Dân điện tử, ngày 4/8/2024.
8 Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 228.
9 Vǎn kiện Đảng, (từ 25/1/1939 đến 2/9/1945), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1963, tr. 532-533.
10 Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Phòng Thủ tướng, hồ sơ 01, tờ 03.
11 Thái Doãn Tước, "Tuần lễ vàng", mốc son đại đoàn kết toàn dân, Báo Quân đội Nhân dân, cập nhật lúc 08.08 ngày 02/09/2022.
12 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, tập 8, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000 tr. 1 - 3.
13 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 89.
14 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, sđd, tr. 61.
15 Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, sđd, tr. 700.

 

 

Các bài đã đăng