PHẠM HỮU THU
Mỏ Tàu là tên của ba ngọn núi cheo leo nằm ở phía đông dòng Tả Trạch nay thuộc địa phận phường Phú Bài, thành phố Huế. Nơi đây (từ tháng 8/1974 cho đến tháng 01/1975) do “giành đi giật lại” nhiều lần nên đã diễn ra nhiều trận đánh ác liệt khiến hàng nghìn binh sĩ của cả hai phía thương vong.
Thăm lại chiến trường xưa, nhiều cựu chiến binh ngạc nhiên khi biết vùng “tử địa” này chưa được lập hồ sơ đề nghị xếp hạng di tích lịch sử quốc gia.
Phải chăng Mỏ Tàu không xứng đáng hay vì một lý do nào khác?
1.
Trong ba ngọn núi ở Mỏ Tàu, ngọn cao nhất đo được 325 mét.
Sau xuân 1968, quân đội Mỹ đã cho san bằng chóp núi này để lập căn cứ quân sự mang tên Bach hay còn gọi cao điểm 312.
Liền kề với Mỏ Tàu ở phía bắc là sông Tả Trạch - nơi có dãy núi Đá Đen và phía nam là bãi đáp trực thăng được Quân giải phóng đặt tên là sân bay Cưa nay thuộc địa phận phường Phú Bài, thành phố Huế.
Do vùng tiếp giáp giữa đồi núi với đồng bằng phường Phú Bài phần lớn trơ trọi vì chất độc khai quang và đạn bom nên đứng ở Mỏ Tàu có thể nhìn thấy quốc lộ I và vùng đô thị trung tâm của Huế.
Sau năm 1970, thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, quân đội Sài Gòn thay binh sĩ Mỹ trấn giữ Mỏ Tàu và đã biến nơi đây thành “lá chắn thép”. Bao bọc căn cứ Mỏ Tàu là 4 lớp hàng rào kẽm gai và 3 lớp dây thép bùng nhùng. Bên dưới là các bãi mìn định hướng Claymore, lựu đạn và pháo sáng.
Nguyên Huyện đội trưởng Lê Hữu Tòng cho biết, để phá cho được “con mắt thần” này, bộ đội Hương Thủy phối hợp với Tiểu đoàn 8 Trung đoàn 271 (Quân khu Trị Thiên) nhiều lần tổ chức tấn công nhưng đều bất thành. Trở ngại lớn nhất ở Mỏ Tàu, theo vị chỉ huy này là những vách núi dựng đứng. Khi bộ binh tấn công do mình dưới thấp nên đối phương dễ dàng đẩy lùi; do vậy mà trong chiến dịch La Sơn - Mỏ Tàu (mật danh K18), Mỏ Tàu được xác định là trận đánh then chốt.
Tham gia trận đánh này Quân Giải phóng của ta có 2 trung đoàn. Trung đoàn 1 thuộc Sư đoàn 324 Quân đoàn II được giao trách nhiệm trực tiếp đánh chiếm căn cứ Mỏ Tàu; còn Trung đoàn 6 thuộc Quân khu Trị Thiên tấn công ở dãy núi Đá Đen.
Sau gần một tháng bao vây, chia cắt và dội pháo uy hiếp, ngày 27/8/1974, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Phó Tư lệnh Quân đoàn II Hoàng Đan, Sư trưởng 324 Nguyễn Duy ơn và Chính ủy Nguyễn Trọng Dần đã giao nhiệm vụ cho Trung đoàn I phối hợp với Trung đoàn 6 của Quân khu Trị Thiên tấn công Mỏ Tàu. Theo đó, Trung đoàn 6, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Chính ủy Vũ Đình Hộ và Trung đoàn phó Nguyễn Khắc Dương, Tiểu đoàn 2 và 6 đảm nhiệm tấn công ở hướng Đá Đen. Dù hứng chịu nhiều tổn thất nhưng cuối cùng Trung đoàn 6 đã chiếm được vị trí này.
Trong khi đó ở Mỏ Tàu, Trung đoàn 1 phải đối mặt với vô vàn trở ngại. Mặc dù đã dội pháo xuống căn cứ, ào ạt xung phong hết đợt này đến đợt khác nhưng Tiểu đoàn 3 liên tiếp bị binh sĩ của Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 51 Sư đoàn I quân đội Sài Gòn đẩy lùi. Do bị tiêu hao đến 1/3 quân số nên Tiểu đoàn 3 buộc phải rút lui. Theo Thiếu tướng Lê Huy Mai, nguyên Chủ nhiệm Trinh sát - Đặc công Sư đoàn 324 Quân đoàn II, chính vào lúc căng thẳng nhất, ngay chiều hôm đó, Phó Tư lệnh Quân đoàn Hoàng Đan xuất hiện và ra lệnh cho binh sĩ tham chiến nghỉ giải lao; còn cơ quan tác chiến và trinh sát tiếp tục nắm tình hình, tìm cách đánh khác.
Với Mỏ Tàu thực tế chứng minh cách đánh ồ ạt đã không mang lại hiệu quả nên ông đã chỉ đạo đơn vị tham chiến chuyển sang cách đánh khác, đó là cho quân bí mật áp sát hàng rào căn cứ đào hầm hào nhằm vô hiệu hóa pháo binh và không quân đối phương, đợi thời cơ mới nổ súng. Chiến thuật ấy gói gọn trong bốn chữ: “Vây - Lấn - Tấn - Phá”. Các Tiểu đoàn tham chiến triển khai lực lượng ngay trong đêm. Quân ta bí mật áp sát hàng rào, đào công sự và tháo gỡ mìn, lựu đạn, sẵn sàng xung phong khi có lệnh tấn công. Theo phương án được duyệt, Trung đoàn phó Trung đoàn 1 Trương Văn Núp trực tiếp chỉ huy Tiểu đoàn 3 do Hà Quang Đinh làm Tiểu đoàn trưởng. Để tạo yếu tố bất ngờ, Hà Quang Đinh tuyển chọn một lực lượng nhỏ gọn, bí mật luồn sâu và ém sẵn ở phía đông căn cứ Mỏ Tàu.
Rạng sáng hôm sau, đúng giờ nổ súng, toán quân của Tiểu đoàn trưởng Hà Quang Đinh men theo đường mòn xuống suối lấy nước của đối phương (nơi đối phương không gài mìn, lựu đạn) đã xông thẳng vào căn cứ dùng B41 bắn sập lô cốt và phá hủy hầm hào, công sự, cắt đứt liên lạc. Bị tấn công phủ đầu, đối phương rối loạn. Chớp thời cơ, từ các hướng, lực lượng ém sẵn ập vào tấn công và đến 10 giờ 30 phút ngày 28/9/1974, Trung đoàn 1 Sư đoàn 324 Quân đoàn II đã làm chủ cứ điểm Mỏ Tàu, kết thúc thắng lợi chiến dịch La Sơn - Mỏ Tàu (28/8 - 28/9/1974).
2.
Bị mất Mỏ Tàu, phía địch do tướng Tư lệnh Sư đoàn I quân đội Sài Gòn Nguyễn Văn Điềm đã giao trọng trách cho Trung đoàn 54 tái chiếm. Mỏ Tàu lúc này do Trung đoàn 6 thuộc Quân khu Trị Thiên của ta chốt giữ, chủ yếu là rải quân ở các đồi xung quanh nhằm chủ động ngăn chặn đối phương.
Nguyên Huyện đội trưởng Hương Thủy Lê Hữu Tòng cho biết, cuối tháng 10/1974 ông và Trung đội trưởng Trinh sát của C3 Hương Thủy Lương Đình Triển tìm cách đến Mỏ Tàu. Trên đường họ thấy anh em của Trung đoàn 6 hy sinh nhiều quá, có người khi chết trên lưng còn nguyên cả gùi cơm nắm không kịp chuyển đến cho đồng đội. Ông bùi ngùi “tôi nhớ như in những giọt nước mắt của Phạm Ngọc Tuấn khi anh ôm tôi và khóc ở khu vực động Giếng. Tuấn cho biết, Đại đội 3 (Tiểu đoàn 6) thương vong nhiều quá, chủ yếu là do bị “dính pháo”!”
Thiếu tướng Hồ Anh Thắng, nguyên chiến sĩ Trinh sát Trung đoàn 6 cho biết, trước khi bị thương (tháng 12/1974) ông có một tháng hoạt động ở khu vực cạnh căn cứ Mỏ Tàu. Tại đây, ít nhất ông đã ba lần chứng kiến đồng đội mình hy sinh vì pháo của đối phương. Lần đầu, Tổ trinh sát lọt vào sâu trận địa phòng ngự nhưng khi lui ra thì bị pháo địch bắn, trinh sát Tương là người cuối cùng còn nằm trong hàng rào nên hy sinh. Lần hai, sau khi trinh sát, trên đường trở về bất ngờ một loạt pháo địch dội xuống đúng vào đội hình làm Trung đoàn phó Trung đoàn 6 Lê Văn Đuổi hy sinh. Lần thứ ba, trong khi Trinh sát Hồ Anh Thắng đang từ Mỏ Tàu về thì hầm trú quân của tiểu đội bị trúng pháo làm Trinh sát Sơn (quê ở Đại Từ, Thái Nguyên) hy sinh, khi trong túi áo còn nguyên tấm hình của một cô gái, mặt sau ghi: “Mặt trời chỉ mọc hướng Đông/ Còn em chỉ mọc trong lòng anh thôi!”. Đoán người con gái trong tấm hình này là vợ của đồng đội mình nên họ ngậm ngùi bỏ vào túi áo và chôn theo thi thể của liệt sĩ Sơn!
Nguyễn Xuân Kỳ (quê Hà Nam cũ) là chiến sĩ Trung đội I, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 6. Chiều ngày 6/11/1974, Trung đội I được giao nhiệm vụ tấn công “đồi Bảo An” nằm ở phía đông chân núi Mỏ Tàu, nơi do một đơn vị của Liên đoàn 15 Biệt động quân của địch chốt giữ. Sau khi chiếm được, theo phân công đơn vị ông bàn giao “đồi Bảo An” cho Trung đội 2 chốt giữ. Lúc đó chừng 3 giờ chiều, Trung đội I chưa kịp rút lui thì bất ngờ pháo ập xuống. Trung đội trưởng Toàn (quê Lạng Sơn) hy sinh. Đau đớn nhất là khi đánh chiếm trung đội không có ai hy sinh, nhưng khi rút thì bị “dính” pháo của địch làm 9 anh em hy sinh, 7 người khác bị thương. Cả trung đội chỉ còn 4 người lành lặn!
Vũ Hoàng Long (quê Hà Nam), nguyên Đài trưởng 2W của Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 6 cho biết cũng trong tháng 11/1974 ông cùng Đại đội I tấn công cao điểm 139 gần sân bay Cưa do một đơn vị thuộc Trung đoàn 54, Sư đoàn I quân đội Sài Gòn chốt giữ. Sau khi dùng hỏa lực đánh phủ đầu, Đại đội I dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Tư hạ lệnh xung phong.
Chiến sĩ Nguyễn Văn Sơn mặc dù tay phải bị thương, nhưng sau khi bò vào được công sự gần đó phát hiện đối phương đang dùng đại liên bắn trả đồng đội mình, Sơn đã nhặt quả lựu đạn M26 và dùng cánh tay trái còn lại kết hợp với răng và ngón chân cái rút chốt an toàn ném vào. Ổ đề kháng bị dập tắt, tạo điều kiện đồng đội của ông chiếm lĩnh trận địa. Mặc dù chiếm được cao điểm 139, nhưng mũi cường tập mà Vũ Hoàng Long tham gia, chưa kể số bị thương đã có 8 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, trong đó có Đại đội phó Toản và Trung đội trưởng Sâm!
Vượt qua hy sinh, gian khổ, Trung đoàn 6 kiên cường bám trụ sẵn sàng đẩy lùi các đợt xung phong của địch. Trước mỗi đợt tấn công, pháo từ các căn cứ Tân Ba, Phú Bài cấp tập nhả đạn. Pháo ngưng, từ các hướng, binh sĩ của Trung đoàn 54 của địch xung phong. Do bị phơi mình giữa đồi trọc nên họ đã bị đạn cối, B40, B41 của Quân Giải phóng từ trên cao dập cho tơi tả; số khác lại bị rơi vào các ổ phục kích. Trung đoàn 54 bị tổn thất lớn, buộc tướng Tư lệnh Quân đoàn I của địch là Ngô Quang Trưởng phải điều Liên đoàn 15 Biệt Động quân ra vùng tây nam Huế tham chiến nhưng mãi đến ngày 10/11/1974 lợi dụng thời tiết tốt, sau khi ồ ạt cho máy bay ném bom và nã pháo, Trung đoàn 54 mới tái chiếm được Mỏ Tàu.
Sự kiện này được nguyên Thành ủy viên Lê Công Cơ khi đang hoạt động bí mật ở Huế thuật lại: “Chúng tự lên dây cót tinh thần bằng các buổi khao quân ăn mừng “chiến thắng Mỏ Tàu” tại Thương Bạc, sân vận động Tự Do và cho bày văn nghệ tâm lý chiến đến làm trò múa rối để kích động tinh thần đám lính thua trận”.
Sau thời điểm đó Quân khu Trị Thiên đã điều Trung đoàn 271 phối hợp cùng Trung đoàn 6 hình thành thế bao vây và tấn công Mỏ Tàu.
Đến đầu tháng 12/1974 Trung đoàn 1, Sư đoàn 324 quay trở lại (thay Trung đoàn 6) phối hợp với lực lượng của Trung đoàn 271 trực tiếp tấn công.
Sau khi chiếm lại Mỏ Tàu ngày 7/01/1975, Trung đoàn 1 rút lui và giao cho Trung đoàn 271 chốt giữ. Ông Bùi Ngọc Soa (quê Hà Tĩnh) là Trung đội phó thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 7, Trung đoàn 271 cho biết khi đánh Mỏ Tàu, tiểu đoàn của ông hy sinh nhiều. Tai của nhiều binh sĩ Trung đoàn 271 bị ù vì sức ép của đạn bom. Mưa và đạn bom đã làm cho việc tiếp tế lương thực, bổ sung đạn dược gặp nhiều trở ngại nên sức chiến đấu của đơn vị chốt giữ Mỏ Tàu suy giảm, vì vậy ngày 11/12/1974 Tiểu đoàn 61 của Liên đoàn 15 Biệt động quân cùng 2 Trung đoàn: 51, 54 thuộc Sư đoàn I của địch đánh chiếm Mỏ Tàu sau những đợt oanh kích và pháo kích dữ dội.
Do “Trung đoàn 271 để mất chốt Mỏ Tàu” nên Quân đoàn II đã giao cho Sư đoàn 324 tái chiếm. Thêm một lần nữa, Trung đoàn I đã quay trở lại và tiếp tục tấn công; kể từ ngày 7/01/1975, Mỏ Tàu hoàn toàn do Trung đoàn 1 của ta làm chủ, cho đến khi Quân giải phóng mở chiến dịch giải phóng Huế - Đà Nẵng tháng 3/1975!
Ba lần đánh chiếm Mỏ Tàu. Lịch sử luôn nhớ về Trung đoàn I Sư đoàn 324 anh hùng!
*
Kể từ khi mở đầu cho đến lúc kết thúc (8/1974 - 01/1975) tính ra trận chiến ở Mỏ Tàu kéo dài gần 6 tháng.
Xét về thời gian, đây là trận chiến dài nhất và do diễn ra trên không gian hẹp, lại “giành đi giật lại” nhiều lần nên Mỏ Tàu là nơi đẫm máu nhất, đến nỗi những người từng tham chiến ở đây vẫn còn ám ảnh, mặc dù dấu vết chiến tranh đã bị thời gian xóa nhòa và không gian trơ trọi nay đã ngập tràn sức sống mới.
![]() |
| Cựu chiến binh thăm lại chiến trường xưa - phía sau là chân núi Mỏ Tàu |
Nhưng dưới những rừng cây xanh mát ấy tôi đã nhìn thấy những ngôi mộ hoang mà phần lớn được người dân đi tìm phế liệu chiến tranh hay khai hoang trồng rừng khi phát hiện hài cốt mà theo họ phần lớn là binh sĩ quân đội Sài Gòn nên đã thương tình lấp lại; có người không đành lòng đã đưa đi chôn cất, ngày rằm hay mồng một thắp hương tưởng vọng với niềm tin rằng những linh hồn phiêu dạt ấy bớt cô quạnh.
Anh Hồ Đắc Lực là cựu chiến binh. Sau giải phóng theo gia đình định cư ở Dương Hòa, giải ngũ anh xin nhận đất trồng rừng. Trong quá trình khai hoang anh phát hiện nhiều bộ hài cốt. Nếu là Quân Giải phóng anh di dời về sân vườn nhà mình rồi báo cho nhà chức trách quy tập về nghĩa trang; còn hài cốt của binh sĩ Sài Gòn anh lấp lại và đắp cho họ ngôi mộ.
Khi thăm ngôi đền thờ Liệt sĩ nằm đối diện với Mỏ Tàu (do anh và nhiều người tự nguyện đóng góp), Hồ Đắc Lực đã đưa tôi đến bên những ngôi mộ hoang của những người lính Sài Gòn. Sau khi dâng hương cho các liệt sĩ, Hồ Đắc Lực thường ra đây cắm nén nhang cho những người của phía bên kia đã khuất.
Biết tôi từng viết về “Tử địa Mỏ Tàu” nên khi được giới thiệu, nữ quân nhân Trịnh Yến đã kết nối. Chị cho biết: “Em và gia đình đang ở Huế. Được mấy anh ở Xuân Lộc (nay thuộc xã Hưng Lộc) giới thiệu nên gọi điện nhờ anh giúp. Em có người bác tên là Trịnh Khắc Thịnh hy sinh ngày 8/10/1974 chôn chung với 100 đồng đội ở đồi O Dễ. Trước khi hy sinh bác em là chiến sĩ của Trung đoàn 1 Sư đoàn 324”.
Sau đó qua tin nhắn, Trịnh Yến giãi bày thêm: “Do giấy báo tử chỉ ghi “hy sinh ở mặt trận phía Nam” nên sau ngày đất nước thống nhất gia đình đã đi nhiều nơi tìm kiếm nhưng vô vọng. Mãi đến gần đây đồng đội của bác em mới cho biết là hy sinh ở Mỏ Tàu”.
Đồi O Dễ nằm ở phía đông nam chân núi Mỏ Tàu - địa bàn mà Cựu chiến binh Hồ Đắc Lực khá thông thuộc. Anh không chỉ rành đường đi lối lại mà còn kết thân với nhiều cựu chiến binh từng tham chiến ở đây, nhờ vậy mà nắm khá vững tình hình chiến cuộc lúc đó nên tôi đành nhờ cậy anh.
Trịnh Yến thông tin trước khi rời Huế: “Em đã được anh Hồ Đắc Lực (ở Bến Ván - Hưng Lộc) đưa đến tận nơi nhưng đồi O Dễ đã bị thời gian xóa nhòa dấu vết. Anh Lực cho biết, sau giải phóng, Huyện đội Hương Phú (tỉnh Bình Trị Thiên cũ) đã tổ chức tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ ở đây đưa về an táng tại nghĩa trang Hương Thủy và Phú Vang. Em đã tìm đến hai khu nghĩa trang này nhưng trong hàng trăm hàng nghìn tấm mộ chỉ ghi “chưa xác định được danh tính”, quả thật là em không tài nào biết được hài cốt của bác em nằm ở chỗ nào để xin di dời về quê?”.
Đối chiếu tư liệu từ hai phía, thời điểm Liệt sĩ Trịnh Khắc Thịnh hy sinh là sau khi Trung đoàn 1 đã chiếm Mỏ Tàu. Trung đoàn này chốt ở đây trong vòng nửa đầu tháng Mười thì lui quân và bàn giao Mỏ Tàu cho Trung đoàn 6 thuộc Quân khu Trị Thiên chốt giữ.
- Anh trai tôi tên là Lê Thanh Tạo, lính truyền tin của Đại đội 2 Tiểu đoàn 2 Trung đoàn 51 Sư đoàn IBB quân đội Sài Gòn đã tử trận tại Mỏ Tàu ngày 27/9/1974. - Người cung cấp thông tin này cho tôi là anh Lê Thanh Thắng có nhà ở phường 5 Đông Hà, Quảng Trị.
Kể về trường hợp của anh trai mình, Thắng cho biết: “Mùa Thu năm 1974, anh tôi đào ngũ. Biết được nơi lẩn trốn, ông Hồ Văn Phát (Đại đội trưởng) đi tìm. Vì cả nể nên anh trai tôi theo ông trở lại đơn vị và sau đó tăng viện cho Mỏ Tàu. Kể về trường hợp của anh tôi, ông Phát cho biết: hôm đó (27/9/1974) Mỏ Tàu bị pháo dập tơi bời. Tất cả binh sĩ đồn trú ở đây buộc phải ẩn nấp trong hầm. Anh trai tôi ở hướng đông còn ông Phát ở hướng tây. Pháo rơi trúng hầm. Anh trai tôi chết tại chỗ; còn Đại đội trưởng Phát bị sức ép hất tung xuống đồi. Ông kể, tôi ngày trốn đêm đi. Lúc ấy cứ men theo dòng Tả Trạch cuối cùng đã tìm đến được căn cứ Tân Ba”.
Tuy không có con số thống kê nhưng tổn thất từ hai phía ở Mỏ Tàu được ghi nhận là khá nặng nề. Phía Quân Giải phóng của ta là Trung đoàn 271, Trung đoàn 6 (Quân khu Trị Thiên) và Trung đoàn 1 Sư đoàn 324 Quân đoàn II; phía quân đội Sài Gòn của địch là các Trung đoàn: I, 51 và 54 của Sư đoàn I và Tiểu đoàn 61 Liên đoàn 15 Biệt động quân bị quân ta tấn công, tổn thất khá nặng.
Lập hồ sơ vinh danh Mỏ Tàu là di tích lịch sử quốc gia, tôi nghĩ là một việc làm rất ý nghĩa và thiết thực.
P.H.T
(TCSH61SDB/06-2026)