Trang thiếu nhi
'Hồn nhiên tuổi ngọc' và tấm lòng thiết tha với thiếu nhi của Võ Hồng
08:06 | 26/06/2026

LA MAI THI GIA

Trong sự nghiệp văn chương đa dạng của Võ Hồng, thơ không phải là mảng sáng tác nổi bật nhất, nhưng tập thơ Hồn nhiên tuổi ngọc lại chiếm một vị trí đặc biệt. Đây là tập thơ hiếm hoi ông dành trọn cho thiếu nhi, gồm 36 bài thơ và phần phụ lục “Bé học làm thơ”.

'Hồn nhiên tuổi ngọc' và tấm lòng thiết tha với thiếu nhi của Võ Hồng
Ảnh: tư liệu

Qua tập thơ này, Võ Hồng không chỉ thể hiện tình yêu sâu sắc dành cho trẻ em mà còn bộc lộ rõ tâm hồn của một người thầy luôn mong muốn giáo dục nhận thức và tâm hồn trẻ bằng con đường thi ca. Hồn nhiên tuổi ngọc vì thế vừa là thế giới tuổi thơ hồn nhiên, vừa là minh chứng cho tấm lòng thiết tha của nhà thơ đối với thiếu nhi.

Bài học về sự sinh động đa dạng của thiên nhiên quanh bé

Hồn nhiên tuổi ngọc có thể nói là cuốn cẩm nang bằng thơ cung cấp cho trẻ những kiến thức về thế giới tự nhiên xung quanh mình, về cây trái, chim muông quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của trẻ em ở nông thôn. Trong những bài thơ này, Võ Hồng đã nhìn ngắm thiên nhiên bằng con mắt hồn nhiên của trẻ nhỏ để từ đó tạo nên những hình ảnh thơ đáng yêu và sinh động, giúp trẻ em hiểu biết nhiều hơn về sự vận hành của thế giới thiên nhiên. Như bài thơ Tháng mùa vận chuyển giúp bé hiểu được sự luân chuyển của thiên nhiên thể hiện trong sự thay đổi của thời tiết và mùa màng. Bé học cách nhìn bốn mùa qua sự sinh trưởng của những loài hoa và trái cây đặc trưng của mỗi mùa như “Xoài chín chất thành đống cao. Hè rồi! Hoa phượng sắp nở”. Hay học cách biết được tháng năm và thời tiết qua những thực phẩm được bày bán theo mùa và theo thói quen tiêu dùng thực phẩm của người dân quê mình khi cùng mẹ ra chợ:

“Vịt kêu quang quác; tháng Năm
Gà nằm buồn hiu: tháng Chạp
Bấc thổi: lèo tèo cá măng
Nồm lên: cá nục đầy sạp”

Bằng cách gần gũi với thiên nhiên và chú ý quan sát thiên nhiên, bé sẽ hiểu được sự lặp lại của vòng tuần hoàn vũ trụ thông qua sự xuất hiện và thay đổi của cỏ cây hay muông thú. Bé sẽ biết “Cuối tháng giêng tu hú gọi vang trời” hay “Nhuốm lạnh đầu thu, ngỗng trời xao xác” (Thiên nhiên không bao giờ sai hẹn). Thông qua những chu kỳ lặp lại của thiên nhiên, bé sẽ học được cách giữ lời hứa, nói là làm như:

“Mai đào cũng giữ lời giao ước,
Chỉ chờ xuân mới hé nở nụ cười.
 Không kể khó như đã từng hẹn ước.
Cứ xuân về là rực rỡ màu tươi”

Có thể nói nhiều bài thơ trong Hồn nhiên tuổi ngọc của Võ Hồng chính là những bài học về thiên nhiên ở vùng nông thôn miền Nam Trung Bộ, về cây trái đặc trưng của vùng miền, đa dạng và kỳ thú. Những kiến thức ấy, bé dễ dàng học được khi hòa mình vào thiên nhiên, lắng nghe và nhìn ngắm vạn vật trong tự nhiên đang sinh sôi. Đây là những trải nghiệm mà không phải trẻ thơ nào cũng có thể được biết nếu không được sống trong không gian gần gũi với tự nhiên như chính bản thân nhà thơ Võ Hồng của chúng ta nơi vùng đất Phú Yên - quê hương ruột thịt thân thương của ông. Ông dạy trẻ thơ tiếp nhận những đặc tính phong phú đa dạng của các loài cây trái khác nhau quanh mình thông qua lịch sinh trưởng của chúng hay mùa trái chín từ việc phân biệt những quy luật phát triển khác nhau của cây trái về thời gian sinh trưởng, đặc tính sinh trưởng, thời gian rụng lá, đơm hoa kết trái… như trong các bài thơ Cây mãng cầu mùa hạ, Cây bàng cô quạnh, Cây khế góc vườn

Thật ngộ nghĩnh và đáng yêu làm sao khi trong con mắt của trẻ thơ (hay của chính Võ Hồng) các loài cây cũng biết xem lịch như con người, nếu bé xem lịch để biết ngày khai trường, bế giảng thì cây phượng cũng biết xem lịch để “Biết sắp mùa hạ. Vội vàng rụng lá. Để kịp nở hoa”. Còn cây mai vàng thì “Cũng lén coi lịch, thấy chi chữ Tết, kết nụ tưng bừng” (Lịch của các loài cây).

Bài thơ Mùa trái chín dạy cho bé bài học về đặc tính của các loại cây ăn quả, Võ Hồng viết theo thể thơ 5 chữ, liệt kê những trái chín quen thuộc ở nông thôn Việt Nam, những loại cây trồng trong vườn nhà như cây chuối, cây xoài, cây vú sữa hay những trái cây dân dã mọc trong rừng trên đồi như trái sim, trái hồng quân mà trẻ em miền Trung ngày trước bé nào cũng biết, cũng từng rủ bạn bè vào rừng hái sim chín và hồng quân ăn cho đến tím cả môi cả lưỡi: “Ăn sim môi tím ngắt. Ăn xoài miệng thơm lừng. Trái cóc pha vị chát. Ngọt gắt: trái hồng quân”. Cũng trong bài thơ này, khi đọc đến khổ thơ: “Trái thơm chắp rát lưỡi. Trái mít mủ dính tay. The the nước trái bưởi. Ngọt ngọt thịt trái xay” ta có cảm giác như đang nghe một bài đồng dao hay bài vè cây trái mà ta vẫn thường nghe trẻ thơ ở nông thôn đọc vang trong những cuộc vui chơi ngoài trời cùng nhau. Đó là bài vè trái cây vẫn được lưu truyền trong dân gian Trung Bộ và Nam Bộ, trong đó có đoạn nhắc tới các loại trái như trong bài thơ trên của Võ Hồng: “Chặt ra nhiều mủ, là trái mít ướt, mình tựa gà xước, vốn thiệt trái thơm, cái đầu chơm bơm, là trái bắp nấu” (Vè trái cây). Có thể cho rằng ở đây nhà thơ đã vận dụng cách diễn đạt vần vè dễ nhớ dễ thuộc trong các bài đồng dao và bài vè dân gian để có thể truyền đạt đến trẻ thơ những bài học sinh động về thế giới thiên nhiên xung quanh mình thông qua việc liệt kê, miêu tả để chỉ ra những đặc điểm riêng về hình dạng lẫn tính chất của các loài trái cây và qua đó có thêm hiểu biết về giới tự nhiên thân thuộc quanh mình.

Các hiện tượng tự nhiên như vầng trăng, cơn gió, cơn mưa cũng được nhà thơ miêu tả bằng những hình ảnh sinh động, thú vị và gần gũi với sự tiếp nhận của trẻ. Hình ảnh vầng trăng thượng tuần hiện ra trong miêu tả của Võ Hồng thật ngộ nghĩnh: “Đầu tháng trăng treo. Mình eo bụng thóp. Hai sừng cong queo. Màu da trắng lợt” và vầng trăng khi tròn vành vạnh vào giữa tháng lại được nhà thơ miêu tả qua đôi mắt nhìn đầy liên tưởng của trẻ thơ: “Đến rằm thì giàu. Mặt tròn đầy đặn. Đi suốt vòng cầu. Từ mọc đến lặn.” (Nhìn trăng).

Những bài thơ mà Võ Hồng miêu tả về các hiện tượng tự nhiên trong tập Hồn nhiên tuổi ngọc luôn gợi lên khung cảnh của những vùng quê Việt Nam thân thuộc, cho thấy có lẽ tuổi thơ ông đã may mắn được lớn lên trong khung cảnh êm đềm của vùng nông thôn miền Nam Trung Bộ bình yên, hàng ngày được ngắm nhìn sự sống thiên nhiên đang chuyển động quanh mình. Do vậy mà những vần thơ ông viết cho trẻ nếu có xuất hiện không gian nông thôn thì luôn gợi lên những hình ảnh thân thương, quen thuộc: “Trên tàng cây me cây cau. Chim hội tụ về ríu rít. Cánh cò lặng lẽ bay mau. Về dãy núi lam xa tít” (Chiều). Đồng thời trong những không gian đầy ắp âm thanh và hình ảnh đó, luôn gợi đến cảm giác sum vầy, ấm áp và no đủ: “Tiếng dế rỉ rả góc nhà. Tiếng gà cục cục trong ổ. Tiếng ếch ồm ộp đồng xa. Bập bùng đó đây ánh lửa” (Chiều).

Bài học về lịch sử nước nhà và lòng yêu quê hương xứ sở

Trẻ thơ thì hay hỏi, tuổi thơ luôn là bình minh của đời sống một con người và toàn thể loài người, ở giai đoạn bình minh ấy, cái gì nhân loại cũng muốn biết, cũng đặt câu hỏi rồi loay hoay tìm cách trả lời. Càng lớn năng lực nghi vấn càng mau phai đi vì lúc đó người lớn hoặc đã biết tự trả lời hoặc không còn giữ được niềm ngạc nhiên vui thú với những điều mình chưa biết. Không như trẻ thơ, nhìn cuộc đời bằng đôi mắt trong veo đầy lạ lẫm trước sự vật hiện tượng đang diễn ra quanh mình. Cái gì cũng lạ, cái gì cũng muốn biết nên cái gì cũng hỏi, cũng nương tựa vào nguồn kiến thức của người lớn mà mình tin cậy. Và người lớn, nếu biết tận dụng tính ham học hỏi của trẻ sẽ dạy được cho trẻ biết bao nhiêu điều cần thiết nếu biết khéo léo lồng vào những câu trả lời ấy những điều hay. Võ Hồng trong một số bài thơ đã chứng minh được mình là một người lớn biết tận dụng thời cơ để dạy trẻ như vậy. Trong bài thơ Những suy nghĩ vẩn vơ, ông diễn đạt lại lời hỏi ngây thơ của đứa trẻ, một đứa trẻ đã từng có mặt trong mỗi người lớn chúng ta, có đứa trẻ nào trong chúng ta mà không từng hay hỏi “Tại sao cái bàn là cái bàn mà không gọi là cái ghế?”, “Tại sao con vịt có tên con vịt mà không phải tên là con gà?”, “Tại sao cái cây kia tên nọ, con vật nọ tên kia?”

“Ai đặt tên trái này là trái bầu
Sao đặt tên quả kia là quả quất
Căn cứ vào đâu gọi nó là trâu
Còn con này sao lại gọi là con vịt?”

Trong bài thơ còn kể lại lời trẻ thắc mắc vì sao cùng một giống trái cây mà hai vùng Nam Bắc nước ta lại gọi tên khác nhau như: “Bắc gọi là Na, sao Nam gọi mãng cầu?”. Gởi gắm trong hàm ý câu hỏi ngây ngô của trẻ, Võ Hồng đã cho trẻ những kiến thức về tiếng địa phương, về cách gọi tên sản vật của nhiều vùng miền. Bên cạnh đó, nhà thơ còn làm gợi lên lòng biết ơn của trẻ đối với các thế hệ tiền nhân, không chỉ qua việc chịu khó đặt tên gọi cho vạn vật nhỏ bé: “Những vật nhỏ, muôn vàn, đâu đếm hết. Cũng nhờ Người, lần chịu khó đặt tên”, mà còn ghi công to lớn trong việc hy sinh xương máu giữ gìn bờ cõi đất nước bình yên cho trẻ hôm nay:

“Công lao tổ tiên kể sao cho xiết
Đâu chỉ anh hùng phạt Tống chống Nguyên”

“Giặc dữ tràn quân quấy rối
 Đánh hoài, đánh chẳng rảnh tay”

Bài thơ Công ơn tổ tiên được viết bằng thể thơ 6 chữ, khổ 4 câu hiệp vần dễ thuộc dễ nhớ, Võ Hồng giúp cho trẻ thơ biết thêm nhiều về truyền thống cha ông xưa với điều kiện sống còn vô cùng khó khăn: “Quần áo may tay, vải thô. Bệnh hoạn lá lảy qua quýt”. Giúp trẻ hình dung ra không chỉ đời sống vật chất khó khăn mà đời sống tinh thần của cha ông qua các ngày lễ tết cũng hiếm hoi chứ chẳng được phong phú như bây giờ: “Giải trí bài chòi hát bội. Mỗi năm e được đôi ngày”. Lồng vào những lời miêu tả về cuộc sống xa xưa, nhà thơ cũng khéo léo nhắc đến lòng anh dũng quật cường của cha ông dẫu còn muôn vàn khó khăn như thế:

“Vậy mà giữ vẹn bờ cõi.
Con cháu đông gấp mấy xưa.
Nếu được nhìn cảnh bây giờ.
Chắc khen: Uở! Mình cũng giỏi”

Không chỉ là nhà thơ mà Võ Hồng trong một số bài thơ viết cho thiếu nhi còn hiện thân như một người thầy dạy sử. Người thầy ấy luôn có một tấm lòng thiết tha với những trang sử hào hùng của cha ông, luôn đau đáu làm sao có thể dạy cho trẻ thơ lòng yêu mến và tự hào về truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của tổ tiên để trẻ thơ biết yêu quý và trân trọng những hy sinh của người đi trước. Do vậy mà trong nhiều bài thơ của mình, Võ Hồng đã lồng vào những bài học lịch sử bằng thứ ngôn ngữ nhẹ nhàng êm ái của thi ca, khiến cho trẻ học mà như không học, một cách tự nhiên lòng yêu quê hương xứ sở, lòng tự hào về truyền thống nước nhà. Chỉ bằng một lần hướng dẫn trẻ trong bài lịch sử đầu tiên: “Mở tấm bản đồ đô thị. Đường phố chằng chịt dọc ngang”, Võ Hồng đã giải thích ý nghĩa của mỗi tên đường là tên của một vị anh hùng dân tộc:

“Mỗi đường mang một tên gọi
Ngô Quyền… Hưng Đạo… Lê Lợi
Nguyễn Huệ…. Bà Triệu… Bà Trưng
Nguyễn Trãi… Nguyễn Du… Phùng Hưng…”

Có lẽ với lời giải thích giản dị về tên những con đường trong phố mà ngày ngày bé vẫn đến trường hay theo mẹ đi chợ, theo bố đến cơ quan và cùng bạn rong chơi sẽ khiến cho trẻ mãi mãi chẳng quên những bài học về sự hy sinh của tiền nhân đã từng làm nên non sông đất nước cho hậu thế hôm nay và mai sau: “Bao nhiêu là tên danh nhân

Những tên vẫn ghi trong sử
Xếp nằm rải rác từng chương
Nay bỗng họp mặt đông đủ
Chia nhau xuống Quận về Phường”

Những bài học lịch sử trực quan sinh động thế này sẽ giúp trẻ dễ dàng ghi nhớ hơn nhiều những bài học khô khan trong sách sử. Rồi cũng chỉ bằng những lời thơ giản dị đơn sơ nhưng đầy nhân hậu, qua đôi mắt thấm đẫm lòng thương xót dành cho phận nữ:

“Tôi chợt nhớ về Bà Trưng, Bà Triệu
Chưa một lần được nói tiếng “con ơi”
Vì nghĩa lớn, xả thân mình lo liệu
Phần ấm êm xin nhường hết cho người”
                       
(Niềm vui làm mẹ)

Không bằng cái nhìn của các nhà chép sử, ca ngợi sự hy sinh anh dũng, lòng can đảm quật cường của hai vị nữ tướng mà bằng cái nhìn của nhà thơ đầy tình thương yêu và cảm thông, thấu hiểu, ông đã giúp trẻ hay chính người lớn chúng ta nhận ra đây mới chính là sự hy sinh to lớn của Bà Trưng, Bà Triệu. Những người nữ chưa từng được làm mẹ, chưa từng được trải qua cảm giác bồng bế trên tay một sinh linh tạo nên từ máu thịt của mình, chưa được một lần âu yếm gọi hai tiếng “con ơi” bởi vì số phận đã mang đến cho họ một trọng trách to lớn vô ngần với quê hương và dân tộc.

Bài học về tình thương, sự quan tâm và chia sẻ

Bằng những vần thơ của mình, người thầy Võ Hồng không chỉ cung cấp cho trẻ những kiến thức về thế giới tự nhiên, về hoa lá cây trái mà trẻ vẫn nhìn thấy hàng ngày xung quanh mà cũng chính bằng thơ, người thầy - nhà thơ ấy đã gợi lên trong trẻ tình yêu thiên nhiên, trân trọng sự sống của cỏ cây và muông thú. Đồng thời cũng từ việc hướng dẫn trẻ quan sát vạn vật xung quanh, nhà thơ đã hướng trẻ liên hệ đến đời sống sinh hoạt của người thân, giải thích cho bé về tình yêu ruột thịt, tình cảm gia đình, họ hàng, bè bạn một cách giản dị và đầy yêu thương.

Thông qua đặc tính sinh trưởng theo loài của các giống cây như chuối, xoài, mít, nhà thơ gởi gắm bài học về tình bạn, tình đồng loại và tình cảm ruột thịt: “Bởi cây cùng loài, thường đứng chung vườn” (Cây bàng cô quạnh), và sự quây quần ấm áp bên nhau của những loài cây mà cây non luôn được che bóng lẫn lớn lên từ dinh dưỡng của cây mẹ  “Chuối mẹ chuối con, xúm xít quây tròn”. Từ đó nhà thơ hướng bé nhìn sang cây bàng chỉ đứng lẻ loi một mình bên đường gợi lên trong bé tình thương và sự hình dung về nỗi buồn bã, cô đơn của con người khi thiếu vắng gia đình, người thân hay bè bạn:

“Tội nghiệp cây bàng
Đứng ở vệ đường
Một thân trơ trọi
Ngày nắng đêm sương”

Khi quan sát sự chuyển động của thế giới tự nhiên, trẻ thơ luôn luôn dùng chính bản thân mình để liên hệ so sánh, có đứa bé nào không từng hỏi “ba của con chó đâu?” hay “mẹ của con mèo đâu?”. Bé có mẹ cha, có ông bà, có anh em, có ngôi nhà ấm áp, có thức ăn ngon, có quần áo đẹp thì chắc vạn vật xung quanh bé cũng phải vậy, nếu muôn vật khác không được như thế thì thật là đáng thương biết bao. Và với cách nhìn ngây ngô hồn nhiên như thế nên bé thấy thương thật thương cho những kẻ bất hạnh như áng mây, như hạt mưa trong bài thơ Những kẻ bất hạnh: “Chiều ngồi tựa cửa. Nhìn áng mây xa. - Về đâu, lát nữa. Hỡi mây không nhà? Không một bếp lửa. Không mẹ không cha. Để mây nằm giữa?”. Bé thương áng mây không có nhà để về, không có mẹ cha để nũng nịu. Và bé cũng nghĩ rằng chắc cơn mưa cô đơn cùng cơn gió ngoài kia cũng thèm được như bé, được mẹ cha ấp trong chăn ấm: “Cơn mưa cô đơn. Suốt đêm rả rích. Gió hú từng cơn. Gió rơi lạnh ngắt. Buốt như dao cắt. Thèm nằm trong giường. Đắp mền yên giấc”. Võ Hồng qua bài thơ này đã cho ta thấy ông đúng là một nhà thơ của trẻ em khi có thể nhìn thế giới qua đôi mắt ngây thơ và bằng sự liên tưởng hồn nhiên mà chỉ có trẻ thơ mới có thể nghĩ ra.

Những hình ảnh liên tưởng về cơn gió trong bài thơ Gió lạnh dưới đây cho thấy những em bé trong thơ ông không chỉ giàu tưởng tượng mà còn là những cô cậu bé giàu lòng trắc ẩn khi biết quan tâm, lo lắng cho vạn vật quanh mình: “Tháng Chạp trời lạnh cóng. Co ro nằm trong mền. Mọi cửa nẻo đều đóng. Ngoài sân nghe gió rên”. Khi em bé biết lo lắng cho cơn gió: “Lạnh quá biết tìm đâu. Được một căn phòng ấm” nghĩa là bé đã ý thức được sự may mắn của mình khi giờ này được cuộn tròn trong chăn ấm trong tiết trời tháng Chạp miền Trung lạnh lẽo. Những cô bé cậu bé biết quan tâm đến vạn vật như vậy, lẽ nào sau này không lớn lên thành một người nhân hậu và biết yêu thương người khác.

Tôi thích nhất trong tập Hồn nhiên tuổi ngọc của Võ Hồng là bài thơ Muốn giúp đỡ mẹ, không phải là những hành động giúp đỡ cụ thể của em bé nhưng lại là những ước muốn của một bé thơ mơ mộng và giàu trí tưởng tượng: “Khi mẹ cầm cuốc ra đồng. Tôi muốn làm con chim nhỏ. Theo mẹ ra thăm luống bông. Giúp mẹ nhổ giùm bụi cỏ”. Bài thơ được viết theo thể thơ 6 chữ, chỉ với 12 câu thơ nhưng nhà thơ như vẽ nên một bức tranh bình yên quen thuộc ở đâu đó trên khắp đất nước. Trên một cánh đồng lúa lên xanh mơn mởn và trĩu hạt chín vàng, có những người mẹ đang miệt mài gặt hái thành quả của những tháng ngày chăm chỉ cấy cày. Xung quanh là tiếng chim hót vang lừng, những đám mây trên cao như đang sà xuống thấp để che cho mẹ bớt cơn nắng ban trưa, ai biết đâu những chú chim ấy, đám mây ấy chính là ước muốn được hóa thân của các cô bé cậu bé ngây thơ và yêu mẹ biết chừng nào:

“Khi mẹ cầm liềm cắt lúa.
Tôi muốn hóa thành đám mây.
Nắng dẫu làm ngọn lá úa.
Mây che mẹ mát suốt ngày”

Lòng trắc ẩn và tình yêu thương của trẻ thơ còn được Võ Hồng miêu tả qua cách trẻ quan sát và để ý đến hành động hàng ngày của người thân trong gia đình, như em bé trong bài thơ Thương bà già yếu dưới đây kể chuyện về bà của mình: “Hôm qua bà ngồi vá áo. Lẩy bẩy làm rơi cây kim. Kim dính ở ngay mép túi. Mà bà cứ đất dò tìm”. Trẻ thơ đang tuổi ăn tuổi lớn, thường hồn nhiên và vô tư đến mức vô ý, cứ đón nhận tình yêu của ông bà, cha mẹ dành cho mình mà đôi khi thiếu sự quan tâm chăm sóc ngược lại. Không phải em bé nào cũng như em bé trong bài thơ trên đây của Võ Hồng, vì quan tâm đến bà và rất yêu bà nên em mới biết để ý đến những hành động thường ngày của bà, kèm theo đó là sự xót xa vì biết bà đã già yếu đi nhiều, vì em thấy mắt bà đã nhìn kém hơn, sức khỏe của bà đã sa sút nhiều hơn qua cách bà làm công việc hàng ngày:

“Bữa trước bà bưng thúng lúa.
Ì ạch đi chẳng hết sân.
Guốc đứt ngồi đóng mươi búa.
Dựa vách thở dốc mấy lần”.

Và tôi chắc chắn một điều, khi các em được đọc bài thơ này của Võ Hồng, sẽ tự nhiên mà biết quan tâm giúp đỡ hơn ông bà của mình hoặc những người già yếu xung quanh. Bằng những lời thơ giản dị mà gợi nên tình thương và lòng trắc ẩn như thế này, không phải sẽ mang lại kết quả hơn gấp nhiều lần so với những lời dạy bảo khô cứng hay sao.

*

Có lẽ chỉ với một tập thơ Hồn nhiên tuổi ngọc gồm 36 bài thơ cho trẻ và 10 câu chuyện dạy trẻ làm thơ, những người yêu văn chương Võ Hồng như tôi có thể phong cho ông là nhà thơ của trẻ em được rồi. Bởi những bài thơ thiếu nhi được ông viết ra bằng thứ tình cảm yêu quý đong đầy dành cho trẻ. Ông nhìn thế giới bằng đôi mắt của trẻ, liên tưởng về tự nhiên, về vạn vật xung quanh bằng trí óc non nớt hồn nhiên. Ông giúp trẻ tiếp nhận được một cách dễ dàng, nhẹ nhàng và đầy thú vị những kiến thức về thế giới muôn loài, những bài học về lịch sử nước nhà qua những lời thơ giản dị mà sinh động và đầy hình ảnh. Trong thơ viết cho trẻ, Võ Hồng đã ý thức sử dụng những hình ảnh, biểu tượng thân thuộc và phù hợp với tâm sinh lý của trẻ thơ.

Qua những bài thơ trong Hồn nhiên tuổi ngọc, nhà thơ Võ Hồng cũng hiện rõ lên là một người thầy có tấm lòng thiết tha với việc giáo dục trẻ tình yêu quê hương đất nước, yêu con người, yêu thiên nhiên. Người thầy ấy từng chút một hướng dẫn trẻ biết cách quan tâm chăm sóc, biết thương yêu và biết bộc lộ tình thương yêu của mình với ông bà, cha mẹ, bè bạn quanh mình. Người thầy ấy còn tha thiết muốn dạy trẻ biết cách làm thơ, biết dùng ngôn ngữ của thi ca để biểu lộ những nghĩ suy và tình cảm của mình với người khác. Với những gì mà Võ Hồng thể hiện trong Hồn nhiên tuổi ngọc, tôi tin ông xứng đáng được gọi tên là nhà thơ của những em bé và là người thầy dạy bé làm thơ.

L.M.T.G
(TCSH448/06-2026)

 

 

Các bài đã đăng
Tuổi ngựa (13/02/2026)
Giấc mơ (18/07/2025)
Cỏ gà (11/07/2025)
Bà ngoại (07/07/2025)