NGUYỄN LƯƠNG TÀI
Tạp chí Sông Hương số 2 tháng 3-4/1993 có đăng bài của ông Thái Vũ bác bỏ ý kiến của ông Hoàng Minh Tiến cho bài thơ "Răng cắn lưỡi" là của Nguyễn Hàm Ninh và ý kiến hai cụ Hoàng Ngọc Phách và Kiều Thu Hoạch cho là của Nguyễn Đăng Hành để đưa ra một thuyết mới: tác giả bài thơ đó là Trần Văn Kỳ, quân sư riêng của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.
Việc truy tìm lập lại nguyên văn tác phẩm và xác định tác giả là một việc cần nhưng lại rất khó khăn, thêm được một phát hiện mới nào cũng là điều đáng mừng. Tuy nhiên, khi đọc bài này, chúng tôi lại thấy có một số điểm chưa hợp lý trong lập luận và lúc nói đến tác giả, rất tiếc là đã bỏ mất phần thưởng phạt là phần lý thú nhất của giai thoại và của cả bài thơ.
Trước hết, xin nói về thời điểm 1866 mà ông Thái Vũ đưa ra để cho rằng Nguyễn Hàm Ninh và Nguyễn Đăng Hành không thể nào là tác giả. Như chúng ta đều biết, năm 1866 là năm xảy ra cuộc biến động ở Khiêm lăng, không phải là năm xảy ra vụ Hồng Bảo. Lúc này, Hồng Bảo đã mất hơn 12 năm rồi. Sự xích mích giữa hai anh em Hồng Bảo - Hồng Nhậm thực ra đã bắt đầu từ lúc vua cha là Thiệu Trị có ý ghét bỏ người con trưởng, định lập người con thứ hai, nhưng mãi tới lúc Tự Đức chính thức bước lên ngai vàng mới trở thành sâu sắc. Từ đó mâu thuẫn ngày một căng thẳng thêm. Theo sử sách, năm 1853, trong quyết tâm giành lại ngôi báu, Hồng Bảo đã tư thông với người Tây và bị bắt giam vào ngục. Tại đó, năm sau, 1854, Hồng Bảo đã tự tử. Tuy sử sách ghi như vậy, song thời ấy, trong nhân dân, trong giới quan lại, thậm chí cả trong hoàng tộc, không ít người vẫn ngầm cho rằng chính Tự Đức đã giết hại ông anh. Một số bài thơ của Tùng Thiện công, Tương An công như Trường ca hành, Thất thập tân qua bán, Trăm thương, Hoài cổ ngâm và nhất là bài Quỷ khốc hành được viết ra trong hoặc không xa thời gian ấy đã chứng minh cho luồng dư luận kín nói trên. Do đó, chúng tôi nghĩ rằng thời điểm chính của vụ Hồng Bảo là hai năm 1853-1854 và nếu nói về thời gian bài thơ ra đời thì có thể từ đầu năm 1848 đến cuối các năm 1859, 1860 hoặc lâu hơn một ít chứ không thể cố định vào một năm 1866 được. Cho nên việc lấy năm đó để cho rằng Nguyễn Hàm Ninh và Nguyễn Đăng Hành không thể là tác giả là điều không được hợp lý lắm.
Điểm thứ hai chúng tôi muốn nói đến là về trường hợp làm bài thơ của Trần Văn Kỷ. Ông Thái Vũ viết "Chỉ có Trần Văn Kỷ, trong tình thân và tin cậy đó, khi trong trướng cùng bàn việc quân với Nguyễn Huệ có thể cùng ăn chung trên một mâm cơm, Huệ sơ ý nhai, răng cắn lưỡi...". Chúng tôi nghĩ rằng ông Thái Vũ chỉ có thể viết thế khi đã nắm chắc một tư liệu chính xác về tác giả, còn nếu không thì cũng chỉ là từ một giả thuyết tạo ra những giả định mà thôi. Điều đáng nói hơn là câu chuyện kể của ông, trong khi chưa đủ căn cứ xác thực, lại cắt mất phần đã làm bài thơ trở thành giai thoại, bởi vì Nguyễn Huệ không phải như Tự Đức là một ông-vua-nhà-thơ để có được cái hành vi vừa trị tội phạm thượng vừa hậu thưởng cho một tác phẩm hay. Giá như ông đưa ra được một vài chứng liệu dù nhỏ đi nữa, chắc chúng ta ai cũng sẵn sàng bỏ ngay cái giai thoại dù hứng thú đến mấy nữa. Nhưng ông đã không làm được việc đó.
Bây giờ, chúng tôi xin trình bày ý kiến về những người, theo sự hiểu biết cạn hẹp của mình, lâu nay được xem như tác giả bài thơ "Răng cắn lưỡi". Đó là Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Viết Thận và Nguyễn Đăng Hành.
Về Nguyễn Đăng Hành, chúng ta đều biết rằng ông là con trai đầu của Nguyễn Đăng Giai (không phải em như ông Thái Vũ viết), cháu đích tôn Nguyễn Đăng Tuân (không phải con), sinh năm 1823, đỗ cử nhân năm 1843 và tiến sĩ năm 1848, năm đầu Tự Đức. Gia đình ông là một gia đình thế phiệt, có công lớn với triều Nguyễn. Ông nội ông làm quan đến hàm Hiệp biện, có thời gian làm sư bảo dạy các hoàng tử, không những khi sống mà cả sau khi chết vẫn được nhà vua biệt đãi. Bố ông tuy chỉ xuất thân cử nhân (đỗ năm 1825) mà chỉ hơn 18 năm đã được giao đến chức tổng đốc Sơn Hưng Tuyên và lúc con đỗ đại khoa lại đang giữ chức thượng thư Bộ Hình. Còn ông cũng nhờ thế lực của cha ông, mới 13 năm xuất sĩ đã được đề bạt đến chức bố chánh tỉnh Khánh Hòa. Năm 1862, ông mộ lính đánh Pháp, nhưng vì triều đình mới ký hòa ước Nhâm Tuất nên đã cử ra làm thương biện quân vụ tỉnh Bắc Ninh trấn áp cuộc nổi dậy của cai tổng Thịnh. Tại đây, ông đã 13 lần đánh nhau rồi bị giết. Vua Tự Đức "thương lắm" đã ban cho một số đặc ân. Liệu một nhân vật ba đời tận trung và được nhà vua ưu ái như vậy có thể làm một bài thơ ngầm khích bác "đức kim thượng" hay không? Nói thế không có nghĩa là chúng tôi loại trừ trường hợp có hôm ông ngẫu nhiên ăn cắn phải lưỡi mà làm bài thơ, được truyền tụng rồi sau đó được vận vào vụ Hồng Bảo, khi ông đã tử tiết. Song đây là chuyện khó có, bởi vì nếu có thì không con ông là cử nhân Nguyễn Đăng Cừ, cháu nội ông là phó bảng Nguyễn Đăng Cư, đỗ năm 1919, cũng đã phủ nhận để giữ vẹn "gia thanh" chứ.
Về Đinh Viết Thận (trước đây thường đọc là Đinh Nhật Thận), trước giải phóng, nhà nghiên cứu lịch sử Bửu Kế, trong bài viết về cuộc biến động ở Khiêm Lăng đăng trên tạp chí Bách khoa xuất bản tại Sài Gòn, đã cho rằng “tương truyền bài thơ “Xỉ khiết thiệt” (răng cắn lưỡi) là do ông Đinh làm và khi nghe, Tự Đức đã khóc”. Đinh Viết Thận sinh năm 1814, đỗ cử nhân năm 1837 và tiến sĩ năm 1838, là tác giả Thu dạ lữ hoài ngâm viết lúc còn làm việc tại Viện Hàn Lâm ở Huế. Ông nổi tiếng về tính cương trực và về văn thơ. Là bạn thân của Cao Bá Quát, năm 1854, lúc xảy ra cuộc nổi dậy Mỹ Lương, ông bị cung xưng và bị bắt giam rồi sau đó bị đuổi về làng, làm nghề thuốc và dạy học cho đến năm 1866 thì mất. Ông bị mất tự do với nguyên nhân đó, song có giai thoại lại cho rằng vì ông đã mời một ông bạn thân đến đánh tổ tôm, trong thư có câu: "Tứ tướng dĩ cụ, chỉ khiếm nhất viên, tương nhất bách nhị thập tinh binh độ hà lai chiến" (bốn tướng đã sẵn, chỉ thiếu một viên để đem 120 tinh binh qua sông tới đánh). Dầu sao, từ năm 1854, ông không thể là tác giả bài thơ được nữa. Còn như trước đó, với một chân thuộc quan không được ưu ái gì cả, ông làm sao có mặt trong đám triều thần được ngồi làm thơ với nhà vua? Nhưng khi đã "tương truyền", tức là không ít người đã cho là có thể như thế thì gác bỏ tên ông cũng là một việc làm vội vã.
Về Nguyễn Hàm Ninh, thật khó quên lời nhận xét của Cao Bá Quát trên bài thơ họa vần bài “Thù biệt Tam Dương minh phủ Tôn thất Minh Trọng, kiêm trình Trần Cung Trọng, thứ Cung Trọng ký ức nguyên vận” (Đáp biệt tri huyện Tam Dương Tôn thất Minh Trọng, cùng trình Trần Cung Trọng, họa vận bài ký ức của Cung Trọng) của ông và nhờ Trần Cung Trọng (tức Trần Đình Túc) đưa lại: “Thử lão quật cường, chính phục dữ ngã đồng bệnh...” (Ông lão này là tay quật cường, lại cùng ta một bệnh). Nhận xét đó rất đúng, vì tuy đỗ giải nguyên nhưng do tính khí mà 20 năm làm quan, Nguyễn Hàm Ninh đã phải 4 lần bị miễn chức. Sau ngày phạm sai lầm lớn là xuống thăm một chiếc tàu Tây dương, bị tên chỉ huy bắt giữ (không phải bị lái buôn Trung Quốc bắt về nước như ông Thái Vũ viết), vua Thiệu Trị đã cho giải về đi sung quân, nhưng do thiện cảm riêng nên chỉ 6 tháng sau lại phục hồi phẩm hàm, cho vào làm việc tại Sở Tu thư (không phải Tự Đức mến tài cho làm như trong bài viết). Nhưng chỉ tháng sau, Thiệu Trị mất và Tự Đức lên nối ngôi. Lúc này, không rõ có phải vì bị ông vua mới ghét bỏ hay không mà thấy ông nản lòng, không muốn ở lại làm việc nữa. Điều này thể hiện rõ trong bài thơ Đinh vị tứ thập sơ độ chí cảm (Năm Đinh Mùi, 40 tuổi, nhớ lại ngày sinh nhật, ghi lại cảm xúc) ông viết sau ngày Tự Đức đã lên ngôi. Đến mùa thu năm sau, năm 1848, ông cáo bệnh xin về làng. Sách Đại Nam liệt truyện có ghi thời gian này ông bị khiển trách (tọa khiển) nhưng không nói rõ duyên cớ.
Qua cuộc đời, hành động, tư tưởng và tính tình của Đinh Viết Thận và Nguyễn Hàm Ninh, việc cho họ là tác giả bài thơ như một số nhà nghiên cứu trước nay đã làm quả không phải không có căn cứ. Tuy vậy, khi đi vào từng người, thấy đa số đều nghiêng về Nguyễn Hàm Ninh. Chúng tôi đồng tình với họ vì nhiều lẽ:
1. Nguyễn Hàm Ninh là một con người luôn luôn đấu tranh với các điều ngang trái trong xã hội và cả trong quan trường. Sách Đời tài hoa của ông Đẩu Tiếp xuất bản năm 1938 có kể rằng lúc ông làm Chủ sự tại Phủ Tôn Nhơn, có một vị thượng cấp - tắt nhiên là người hoàng tộc - dốt nát, người thì lùn tịt, tính lại hạch sách, coi thường thuộc dịch. Nhân ông ta sinh con trai, đồng liêu đều chúc mừng với lời lẽ tâng bốc, riêng ông, ông tặng một bài thơ, trong đó có hai câu:
Bất nguyện ngô nhi đại quá nhân
Đản nguyện ngô nhi như phụ thân
(Chẳng ước cậu bé nhà ta lớn vượt người, chỉ ước cậu bé nhà ta bằng bố mà thôi)
Ông thượng cấp lúc đầu tưởng ông chúc về sự nghiệp, sau mới hiểu ra là ông chúc về hình dáng. Tắt nhiên, ông ta tìm cách trù dập. Ngay trước đó, khi gởi thư cho ông bạn thân Nguyễn Quán, hiệu Vân Nham ở Nghệ An, ông cũng đã mỉa mai về sự "ưu đãi" của triều đình bằng cách chơi chữ
Vân Nham nhược vấn tân trừ mục
Điển bộ như kim dĩ điển y.
(Vân Nham có hỏi hàm cao thấp
Điển bộ, hôm nay cố áo rồi)(l)
Nguyễn Hàm Ninh là thế.
2. Ông Hoàng Minh Tiến, khi viết bài trên Sông Hương năm 1987, không phải là người thứ nhất cho ông Nguyễn là tác giả bài thơ. Chúng tôi đã đọc và thấy ông Tiến gần như chỉ dựa vào sách Đời tài hoa vì mọi tư liệu và sai sót đều y nguyên 100%. Ông Đẩu Tiếp đã có dịp đến nhà đọc các giấy tờ và di thảo của ông Nguyễn (trong đó có nhiều tài liệu rất đáng giá) và đã giới thiệu bài thơ như sau:
Sinh ngã chi sơ nhữ vị sinh
Nhữ sinh chi hậu ngã vi huynh
Trân tu tằng kỷ đồng cam khổ
Khiết xỉ hoàn vong cốt nhục tình
và dịch:
Thuở bác sinh ra, chú chửa sinh
Từ sinh ra chú bác làm anh
Trân cam từng lúc cùng san sẻ
Cốt nhục đang tâm nghiến đứt tình.
3. Như trên đã nói, từ cuối năm 1847 đến tháng 9 năm 1848, không rõ ông đã bị khiển trách vào lúc nào và vì lý do gì. Đại Nam liệt truyện ghi 4 lần ông bị kỷ luật, lần 1 và lần 3 đưa rõ nguyên cớ, lần 2 không, song vẫn hiểu được qua tiểu sử, chỉ có lần 4, lần cuối là hoàn toàn không nắm được. Phải chăng là vì chuyện bài thơ?
4. Chúng tôi không biết, trước ông Đẩu Tiếp đã có ai cho Nguyễn Hàm Ninh là tác giả bài thơ chưa, còn như sau ông thì có một nhà nghiên cứu trong vùng tạm chiếm miền Nam cũ đã viết một bài đồng tình như vậy. Năm 1982, nhà nghiên cứu văn học cổ Bùi Hạnh Cẩn ở Hà Nội, khi tham gia viết tập Danh nhân Bình Trị Thiên đã đọc hai tập thơ của ông lưu giữ tại Thư viện Hán Nôm T.Ư. và cũng cho ông là tác giả bài thơ này.
Vì những lẽ đó, chúng tôi nghĩ rằng hẵng cứ nên giữ nguyên cái giai thoại lý thú chung quanh bài thơ "Răng cắn lưỡi" với tác giả được nhiều người xác định hơn cả là Nguyễn Hàm Ninh. Đồng thời nên tìm tòi, trao đổi ý kiến thêm để đi dần đến sự thực, cho tới khi chúng ta đạt được một kết luận đúng đắn hoặc có được một tư liệu chính xác, có thể phản bác hoàn toàn những đoán định đã đưa ra từ trước đến nay.
N.L.T.
(TCSH62/04-1994)
----------------------------
(1) Chữ "điển" có nhiều nghĩa. Điển bộ là giữ sổ sách, điển y là cầm cố áo. Điển bộ ngang với hàm tùng bát phẩm.