PHAN THANH BÌNH
Năm 1978 tại nhà triển lãm 16 - phố Ngô Quyền Hà Nội, giới thưởng ngoạn mỹ thuật thủ đô đã xôn xao trước những khối hình điêu khắc mới lạ của nữ điêu khắc Điềm Phùng Thị. Sau đó triển lãm được chuyển vào Huế, lần nữa công chúng Huế lại bất ngờ, thú vị trước sự lý giải bằng ngôn ngữ điêu khắc táo bạo, dân tộc và hiện đại của bà.
Ngày ấy không ít người nghĩ rằng giá như ở Huế có một sưu tập điêu khắc như vậy! Điều tưởng chừng xa vời, ý tưởng mong manh ấy đã trở thành hiện thực vào đầu năm Giáp Tuất 1994, hơn thế không chỉ là một sưu tập nhỏ, đơn lẻ mà là cả một tổ hợp điêu khắc, với không gian trưng bày, biểu hiện rộng lớn, nằm tại số 1 Phan Bội Châu, ngôi nhà xinh đẹp mà nhân dân Huế đã trân trọng dành cho những tác phẩm điêu khắc Điềm Phùng Thị, người nghệ sĩ mà giờ đây danh tiếng đã quen thuộc với người dân cố đô và cả nước, còn đối với nước Pháp và châu Âu tên tuổi của bà đã gắn liền với 36 tượng đài Pháp, các triển lãm tại nhiều nước và có tên trong danh sách của Viện Hàn lâm khoa học và văn nghệ châu Âu.
Từ năm 1991 Bộ từ điển danh tiếng Larousse của Pháp đã ghi danh bà trong tập "Nghệ thuật thế kỷ XX" (Art du 20ème siècle), đó là một vinh dự lớn mà không phải dễ dàng gì có được. Bà Điềm Phùng Thị sinh năm 1920 tại Huế, bà đã từng là nữ sinh trường Đồng Khánh và trường Khải Định Huế, sau đó bà học tại trường Thăng Long (Hà Nội). Bà đã học Đại học Y Hà Nội, rồi sang Paris tiếp tục học tại trường Đại học Y từ năm 1948 đến 1950.
Paris như chính bà nói trong buổi khai mạc nhà trưng bày - là trung tâm nghệ thuật châu Âu, nơi đây đã tụ hội những cái mới của mỹ thuật hiện đại, trong không gian ấy, bà đã đến với nghệ thuật điêu khắc, và từ năm 1960, nghệ thuật điêu khắc đã trở thành niềm đam mê, say đắm, đầy nhọc nhằn nhưng cũng tràn ngập niềm vui với nỗi khát khao vươn lên của bà. Cũng như nhiều nghệ sĩ danh tiếng khác ở châu Âu, bà đã trải qua nhiều chặng đường nghiên cứu, học hỏi và sáng tạo khác nhau để cuối cùng tìm thấy con đường riêng của mình, con đường mà giờ đây đã đậm đặc khí chất riêng Điềm Phùng Thị không thể nhầm lẫn với bất cứ ai.
Qua trưng bày điêu khắc Điềm Phùng Thị, người xem cảm nhận được những chiều hướng điêu khắc mà bà đã đi qua, những năm đầu đến với điêu khắc, bà đã sáng tác trên cái nền của nghệ thuật hàn lâm cơ bản, điều này thấy rõ trong loạt tượng mang phong cách trực diện, hiện thực của bà. Giữa thủ đô nghệ thuật châu Âu - thành phố Pa-ri - bà đã không vội vàng, bỏ qua sự nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi như một số nghệ sĩ khác với các "isme" đủ loại. Bà đã tự tạo cho mình một tri thức nghệ thuật và tay nghề vững vàng trước khi tạo ra những đột biến táo bạo trong cách tân ngôn ngữ điêu khắc hiện đại, điều đó đã chứng tỏ một bản lĩnh mạnh mẽ và báo hiệu sự vươn tới cái đích nghệ thuật cao đẹp ở bà là không có gì ngăn trở nổi.
Trong trưng bày nội thất, các tác phẩm phản ánh những rung cảm chân thực, sâu lắng và rất nội tâm của bà, như Mặt Từ Bi (đất nung), Cô Gái Triều Tiên (đất nung), Chân Dung Ông Luic (đất nung) mang âm hưởng của điêu khắc biểu hiện RODIN (1840-1917), nhưng vẫn có sắc thái Á Đông, tâm hồn Á Đông, điều mà mãi mãi còn nguyên vẹn và sâu đậm trong sáng tác của bà về sau. Sự chuyển dịch phong cách ở điêu khắc Điềm Phùng Thị không đột ngột mà vẫn tạo nên một mạch thẩm mỹ liên tục, căng đầy sức biểu cảm tâm lý. Khoảng giữa trong sự nghiệp sáng tạo của bà không dừng lại khối tĩnh và chiều sâu biểu hiện mà chuyển dịch đến một trạng thái biểu hiện hừng hực hơn ở sự va đập, giãn nở, căng đầy của khối. Trong đó bà rất chú ý đến bố cục, tính cô đọng, khúc chiết của khối và những đường nét mềm mại, gợi cảm của tổng thể.
![]() |
| “Trẻ em” - nhựa tổng hợp |
![]() |
| “Bàn tay” - đá |
![]() |
| “Y-ô-ga” - gò nhôm |
Tác phẩm Người Đàn Bà Nhật Bản (thạch cao) là một trong những tác phẩm tỏ rõ sự hài hòa, khúc chiết với phần đầu bóp nhỏ, chuyển khối lớn dần phía dưới với nét cong phóng khoáng, linh động tạo nên cảm giác lập thể xúc cảm, gợi nhớ đến những thành tựu mẫu mực của điêu khắc BRANCUSI (1876-1957), sự ảnh hưởng này là tất yếu, bởi từ đó bà chuyển tải được những ý tưởng thẩm mỹ vừa mang chất cảm Á Đông lại vừa tiếp cận đến những đỉnh cao của điêu khắc đương đại.
Là một người Việt xa quê nên những kỷ niệm, dấu ấn quê hương vẫn in đậm và lay động mãi nỗi nhớ của bà, để rồi trong những tác phẩm điêu khắc của mình, bà thể hiện rõ bóng dáng của cây đa, bến nước sân đình, của mái chùa cong đầy lưu luyến bâng khuâng. Dẫu tác phẩm với nhiều dáng dấp khác nhau, nhưng vẫn sâu đậm những nỗi niềm có tính nhân văn tỏa sáng. Một tác phẩm như chiếc mặt nạ với cái tên Một Cuộc Đời (đất nung) đã chạm đến những xúc cảm tinh tế ở mỗi người xem, qua khuôn mặt người kiểu chạm khắc đình làng Bắc, trong vẻ trầm lắng, bi ai, như gợi đến một thân phận, cuộc đời nghiệt ngã nào đó rất quen thuộc giữa muôn người.
Tác phẩm Bà Vú Già (đất nung) trong khối hình nhỏ bé, nhưng chỉ một nét nhấn khối, tạo nên hình ảnh rụt vai, co ro của hình tượng và như thế nhân vật trở nên sống động và chân thực kỳ lạ! Cùng với cái nhìn và biểu cảm khối như vậy, tác phẩm Đợi Chờ (đá) trở nên đa nghĩa và bí ẩn, gợi được sự liên tưởng thẩm mỹ sâu sắc ở người xem.
Điêu khắc của Điềm Phùng Thị không chỉ dừng lại ở đó, bà luôn chuyển đổi cấu trúc biểu hiện, nên nỗi buồn vui trong mỗi tác phẩm cũng không hẳn là vĩnh viễn, có những tác phẩm hé ra nét dí dỏm tinh tế riêng lạ của bà, dường như tuổi tác không làm già được năng lực sáng tạo và niềm vui sống của bà. Bà vẫn trẻ ở những tác phẩm mà càng xem kỹ càng thấy nhà điêu khắc cũng đôi chút tinh nghịch, hóm hỉnh. Tác phẩm Chiến Sĩ Ra Trận Vác Vợ Theo (đồng) tạo nên nghịch lý ở bố cục, khối gồm năm chiến sĩ theo kiểu thức biểu hiện động quen thuộc với một cái giáo nhọn to lớn, trên vai người chiến binh đầu tiên là tượng một người đàn bà bé nhỏ. Sự tương phản, bất ngờ của các mô-típ đã làm cho người xem phải chú ý, và hơn thế nó hàm chứa tính nhân văn sâu xa như nhịp trống xa xưa của những đoàn binh ra trận vẫn khắc khoải tình yêu, như bản Chinh Phụ Ngâm đã chuyển hóa trong điêu khắc đầy xúc cảm của bà Điềm Phùng Thị.
Bức tượng biểu hiện tinh tế nhất, sâu lắng chất dí dỏm có lẽ là Người Đàn Bà Nằm Vách Mảy (thạch cao), bố cục bàn chân với nét xoáy và vị trí xoay đảo hướng đã nâng sự dí dỏm đến một trường biểu hiện mới, cô gái nằm hớ hênh đầy chất dân gian đã từng biết đến trong tranh Đông Hồ, trong thơ của Hồ Xuân Hương thi sĩ, nhưng biểu lộ bằng ngôn ngữ điêu khắc qua sự mẫn cảm của bà Điềm thì đã được cụ thể, sinh động và hấp dẫn đối với con mắt hơn bao giờ hết. Những tượng khác như Người Đàn Bà Ngồi Xổm (thạch cao), Trái Đất (Tượng lớn - nhựa tổng hợp) cũng tạo nên sự căng đầy, đối lập và bất chợt lóe lên cảm quan triết học, nhân sinh, sự sống của con người qua hình tượng người Mẹ - Trái Đất đầy tính tượng trưng.
Khuynh hướng quy sự vật hiện tượng vào những khối hình cô đọng, khúc chiết đơn giản hóa chiếm chủ đạo và quan trọng trong điêu khắc Điềm Phùng Thị, chính ở những cấu trúc khối chặt chẽ này, bà đã khẳng định được giá trị lớn lao của mạch thẩm mỹ tinh tế chính mình, mạch thẩm mỹ ấy chỉ có thể tồn tại và lấp lánh soi sáng khi đã có một sự tìm tòi, vươn tới cái mới không ngừng, mà những dấu ấn của quá trình ấy đã in đậm trong hàng loạt tác phẩm về trước. Chỉ với bảy khối cô đọng, súc tích nhưng có thể mở ra sự biểu hiện phong phú về cuộc sống, đấy là thành công, là sự kỳ diệu mà bà đã tạo nên. Về điểm này ông Christian Pattyn (Bộ Văn hóa Pháp) đã nói rất có lý: "... Hãy biết ngắm nhìn, biết thưởng thức và bạn sẽ bị xâm chiếm, chế ngự bởi những thông điệp trong sáng và mạnh bạo..."; chính tính Module của các khối hình và bản chất của các bố cục đã tạo nên sự rõ nét trong dáng dấp, phong cách Điềm Phùng Thị. Một nghệ sĩ nào đó đã nói "Tôi không sợ gì bằng trong sáng tạo nghệ thuật mà thiếu phong cách".
Bà Điềm Phùng Thị đã đi mãi, tìm tòi liên tục để cuối cùng nhận thấy từ lâu, từ tác phẩm, thời kỳ nào đó ở bà đã thực sự có một phong cách (style) - phong cách điêu khắc Điềm Phùng Thị, khối hình Điềm Phùng Thị... mà giờ đã trở nên muôn hình muôn vẻ. Phong cách ấy tồn tại từ vi mô đến vĩ mô trong không gian điêu khắc của bà, đó là những đồ trang sức bé xíu mà hấp dẫn, mới lạ, là những cắt giấy mang tính điêu khắc đậm nét, bởi vì nó ám ảnh ta cái chiều thứ ba vô hình, rồi biến tấu đôi chút trong những rung cảm phỏng theo chữ tượng hình của Trung Quốc như Một Bài Thơ Đen (chì - gỗ), Bài Thơ Đỏ (nhựa), Con Lân (nhựa). Tiếp đến lớn hơn ở các tượng mà sức biểu cảm nghệ thuật có tính đa chiều hơn như Cổng Hư Vô (gỗ), Em Bé Khẩn Cầu (gỗ), Ni Cô (đồng đá) sâu lắng, gợi nhớ đến nao lòng, hoặc là Văn Miếu (gỗ), Hồ Tưởng Niệm. Tất cả ẩn giấu những suy cảm sâu lắng về cội nguồn Á Đông, sự sống và nỗi hồi tưởng đậm đặc tình người.
Những tượng ngoài trời của bà không hẳn lúc nào cũng lớn, có nhóm tượng vừa nhỏ, thấp sát mặt cỏ xanh, có tượng nhóm đông vươn cao, có tượng bệ vệ khối đặc, một số tượng còn chứa tải chức năng khác, nhưng chiều sâu biểu hiện đều được tác giả chú ý để đem lại cho mỗi cụm tượng sức sống riêng như Những Em Bé (đá) với nét mặt phác ngây thơ, Ông Phật (gỗ) trầm tư, Ông Quan (đá) uy nghi, đường bệ và Những Người Từ Phương Xa Lại (xi-măng) trong dáng vẻ mơ hồ đâu đó, với những khối ngả nghiêng, chao đảo, run rẩy với sức chế ngự, xúc cảm sâu lắng, lay động lòng người.
Giá trị tinh thần điêu khắc Điềm Phùng Thị gần gũi với tâm hồn, tính cách người Huế nói riêng và nhân dân ta nói chung, vì vậy tác phẩm của nghệ sĩ được đông đảo mọi người yêu thích, phù hợp với công cuộc lưu giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa Việt Nam trong quá khứ và hiện tại.
P.T.B.
(TCSH63/05-1994)