ĐỖ MINH ĐIỀN
Từ Tân Thơ viện đến Thư viện Bảo Đại
Thư viện Bảo Đại là cái tên chỉ mới xuất hiện vào năm 1933. Thế nhưng, truy nguyên lai lịch trước đó, thì nguồn gốc hình thành của thư viện này lại gắn liền với sự ra đời, rồi chấm dứt hoạt động của 3 cơ quan lần lượt được thiết lập dưới thời 3 triều vua cuối của nhà Nguyễn, đó là Tân Thơ viện (1909 - 1923), Phiên dịch sở (1920 - 1922) và Cổ học viện (1922 - 1933).
Trước khi đi vào tìm hiểu về Thư viện Bảo Đại và Viện Bảo tàng Lịch sử, có lẽ chúng ta phải nhắc đến quá trình dời dựng ngôi trường Quốc Tử Giám và Tân Thơ viện. Bởi lẽ, trong quá khứ, hai địa điểm này có mối quan hệ vô cùng mật thiết. Đặc biệt, việc xây dựng hai công trình này gắn liền với thời điểm triệt giải cung Bảo Định, một biệt cung nổi tiếng của vua Thiệu Trị được xây dựng vào năm 1845 ở phía bắc sông Ngự Hà.
Vị trí tọa lạc của trường Quốc Tử Giám hiện nay, nguyên trước đó là Quảng Thiện đường (廣善堂), đây là nơi học tập của các hoàng tử và công chúa1. Trong khi đó, địa điểm của Tân Thơ viện (tức Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế hiện nay) chính là Phong cảnh Hoa/Ba viên (風景花園), là “vườn giải trí cho các hoàng tử và công chúa”2. Vào năm 1908, vua Duy Tân quyết định cho di dời trường Quốc Tử Giám từ làng An Ninh về bên trong Kinh thành: “Đến lúc ấy dời vào trong thành gần với Tân Thơ viện, trích gỗ ván cũ vốn ở điện Hiếu Tư [thuộc cung Khánh Ninh] để xây dựng, lại trích gỗ ván ở gác Minh Trưng, hiên Đạo Tâm sau điện Long An đổi dựng Di Luân đường, Trì Khiêm viện đổi làm Tả Giảng đường, nhà ở của quân Tứ vệ đổi làm Hữu Giảng đường, chi hơn 5.000 đồng”3.
Một năm sau đó, năm 1909, điện Long An - công trình chính của cung Bảo Định cũ, cũng được di dời, để xây dựng Tân Thơ viện. Đến năm 1923, theo “Chỉ dụ ngày mồng 6 tháng Bảy năm Khải Định thứ tám [1923] đã quyết định rõ ràng việc dùng toàn bộ khu này để xây dựng một bảo tàng: Bảo tàng Khải Định (Musée Khai Dinh)”4. Trường Quốc Tử Giám và Tân Thơ viện được bố trí chỉ cách nhau một con đường (đường Lê Trực hiện nay). Cả hai đều nằm kế cận với khu vực Hoàng thành về phía Tây và phía Đông chính là Cơ mật viện.
Ban đầu, Tân Thơ viện được thành lập với chức năng như một thư viện hoàng gia, phục vụ việc nghiên cứu, học tập của các học sinh, giáo viên trường Quốc Tử Giám. Phiên dịch sở (番譯所) chính thức ra đời vào năm 1920, thuộc quyền quản lý của Bộ Học, đây là đơn vị phụ trách “dịch những sách chữ Hán ra chữ Quốc ngữ để tiện in ấn”5. Tuy chỉ tồn tại trong khoảng thời gian khá ngắn, nhưng Phiên dịch sở đã đứng ra tổ chức dịch, in và phát hành một số bộ quốc sử nhà Nguyễn rất có giá trị, như Quốc triều chánh biên toát yếu, Đại Nam liệt truyện, tiền biên…
Sau đó, ngày 29/9/1922, theo đề nghị của Thượng thư Bộ Học Thân Trọng Huề, Phiên dịch sở đổi làm Cổ học viện6. Đến ngày 28/7/1923, triều đình quyết định hợp nhất Cổ học viện với Tân Thơ viện để tổ chức thành một cơ quan có tên là Cổ học viện (古學院), tức Ty Nghiên cứu Cổ sự (Bureau d’études des choses anciennes)7. Lý giải về sự thay đổi này, Sử quan nhà Nguyễn cho biết rằng: “Từ khi cải lương cách học trở đi, nghĩa lý cựu học không lấy đâu mà phát minh, nghĩ nên đổi làm Cổ học viện để nghiên cứu các khoa luân lý, triết học, văn chương cổ học kiêm dịch những sách chữ Hán thiết yếu ra chữ Quốc ngữ để dạy những người Tân học trẻ tuổi”8.
Về sự kiện ra đời Cổ học viện, trong một bài viết đăng trên tờ Thực nghiệp dân báo, tác giả V.T, có đoạn viết: “Nay đã được tin Cổ học viện thành lập ở kinh sư theo như ý hoàng thượng cùng học thần tổ chức thì Sở Biên dịch ngày nay đổi làm Viện Cổ học, các viên Biên tu, Toản tu, các người Biên tập tòng sự đã có định ngạch, ngoài ra lại còn kén người học tập chữ Hán để sau này bổ khuyết vào số thiếu trong các viên tòng sự, ấy là phòng xa lo trước cho khỏi nỗi khó khăn về sự học chữ Hán sau này ngày một ít dần”9. Trụ sở Cổ học viện lúc đầu đóng tạm tại dãy nhà ở phía đông của Tân Thơ viện. Vào năm 1924, sau khi Tân Thơ viện trở thành Bảo tàng Khải Định, trụ sở của Cổ học viện được di dời về khu nhà cũ của trường Uyên Bác (trường Hậu Bổ cũ). Đến ngày 03 tháng 5 (nhuận) năm Bảo Đại thứ 7 (14/6/1933), nhận thấy cái tên Cổ học viện không thích hợp với giới Tân học cũng như xu thế lúc bấy giờ, nên Cổ học viện được đổi thành Thư viện Bảo Đại và sẽ do Bộ Quốc dân Giáo dục quản lý. Sau khi trường Quốc Tử Giám chấm dứt hoạt động, toàn bộ sách vở, tư liệu được đưa về dãy nhà phía sau Di Luân đường (Quốc Tử Giám). Các tòa nhà ở đây sau đó cũng được sử dụng để thiết lập Bảo tàng Canh Nông, rồi Viện Bảo tàng Lịch sử Huế. Gần 10 năm sau đó, vào ngày 11/8/1943, tại bản Dụ số 41, vua Bảo Đại chuẩn y quyết định thành lập cơ quan Lưu trữ và Thư viện Nam triều (trực thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục). Theo đó, tất cả các kho lưu trữ tại kinh đô (Quốc sử quán, Tàng thư lâu, Lưu trữ Nội các, Lưu trữ Cơ mật viện, Thư viện Bảo Đại) sẽ được sáp nhập và do Lưu trữ và Thư viện Nam triều quản lý10.
![]() |
| Bản Tấu ngày 06 tháng 10 năm Bảo Đại 18 (1943) về việc tổ chức cơ quan Lưu trữ và Thư viện của chính phủ Nam triều. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I. |
Đối với phần đông người dân lúc bấy giờ, không phải ai cũng có thể dễ dàng ra vào Thư viện Bảo Đại để đọc sách: “Thư viện đó [tức Thư viện Bảo Đại] chỉ có những sách giúp người ta trong kỳ thi quan lại mà thôi. Mà muốn vào coi, cần phải có ít nhất là mảnh bằng Cao đẳng Tiểu học, vì chỉ những người có bằng Cao đẳng Tiểu học trở lên mới được thi vào ngạch quan lại”11. Với chức năng là một thư viện hoàng gia, thế nhưng, vào thời điểm năm 1936, theo như những mô tả của báo chí, thì quy mô của Thư viện Bảo Đại “là hai cái phòng nho nhỏ của trường Quốc Tử Giám cũ sửa lại, với chỉ độ sáu bảy trăm quyển sách, và trên hai mươi tờ báo”12. Ngoài số lượng sách chữ Hán, Thư viện Bảo Đại lưu trữ chủ yếu là các loại sách báo tiếng Pháp. Chính vì thế, tại các kỳ họp, một số đại biểu của Viện Dân biểu Trung Kỳ liên tục gửi kiến nghị đến chính quyền bảo hộ phải tăng số tiền chi tiêu hằng năm cho Thư viện Bảo Đại để bổ sung các đầu sách, báo, tạp chí Quốc ngữ, cũng như thay đổi quy chế về việc mở rộng đối tượng bạn đọc và thời gian mở cửa.
Viện bảo tàng Lịch sử Huế (Musée Historique de Hué)
Toàn bộ khuôn viên khu đất thuộc trường Quốc Tử Giám tại địa chỉ số 01 đường 23 tháng 8 (phường Phú Xuân, thành phố Huế) có tổng diện tích mặt bằng là 24.604,7m2, giới hạn tiếp giáp với bốn con đường: Đường Đinh Tiên Hoàng (phía Đông), đường Đoàn Thị Điểm (phía Tây), đường 23 tháng 8 (phía Nam) và đường Lê Trực (phía Bắc)13.
Khuôn viên trường Quốc Tử Giám trước đây (1935 - 1945), bao gồm các đơn nguyên kiến trúc chính, đó là tòa Di Luân đường nằm chính giữa, 2 bên tả - hữu là 2 dãy nhà học nằm đối diện nhau, kế đó là 2 dãy nhà phía sau, quay mặt cùng hướng với Di Luân đường và 2 dãy Quốc Tử học xá. Trong đó, Di Luân đường là công trình chính, với lối kiến trúc 2 tầng bằng gỗ được tận dụng từ các cấu kiện của hai công trình thuộc cung Bảo Định, đó là Minh Trưng các và Đạo Tâm hiên: “Hai cái nhà Minh Trưng và Đạo Tâm hiên đem ra đấy sửa lại làm Di Luân đường, chỗ để các sinh viên trường Quốc Tử Giám đến nghe giảng bài. Trải qua một thời, nhà Di Luân đường dùng làm Bảo Đại thư viện và đến nay thì dùng làm Bảo tàng viện”14. Trước năm 1945, bên cạnh chức năng giảng dạy, thư viện, trưng bày hiện vật, thì tòa nhà Di Luân đường còn là nơi được lựa chọn để tổ chức các kỳ họp Đại hội đồng thường niên của Như Tây du học bảo trợ hội, diễn thuyết của hội Quảng Tri, tổ chức thi Ký lục sự, niêm yết kết quả các kỳ thi Thừa phái (Thừa phái Tập sự, Thừa phái Thí sai)...
![]() |
| Trường Quốc Tử Giám năm 1914. Nguồn: Guide de l’Annam, par Philippe Eberhardt (Augustin Challamel, Éditeur, Paris). |
Viện Bảo tàng Lịch sử Huế (Musée Historique de Hué) ra đời vào năm 1943. Không rõ chính xác thời điểm thành lập Viện Bảo tàng Lịch sử, tuy nhiên, theo tác giả Bửu Kế15 thì vào ngày 23/10/1943, ông Jean Decoux - Toàn quyền Đông Dương đã đến viếng thăm Bảo tàng, “đó là một Bảo tàng viện rất quý, mới thành lập xong, ít người biết”16. Theo thông tin trên Bulletin administratif de l’Annam, thì Viện Bảo tàng Lịch sử Huế được xem là thành viên trực thuộc của Bảo tàng Khải Định17. Có lẽ vì thế mà hầu hết số lượng hiện vật được trưng bày tại đây đều là những cổ vật xuất phát từ Bảo tàng Khải Định.
Như chúng tôi đã nói ở trên, tòa nhà Di Luân đường lúc này được sử dụng làm Viện Bảo tàng Lịch sử. Còn hai tòa nhà hai bên và dãy nhà phía sau Di Luân đường là trụ sở của Thư viện Bảo Đại, Viện Bảo tàng Canh nông (thành lập năm 1935) và phòng Thanh niên Thể dục: “Qua khỏi cửa rồi, các ngài dừng chân lại trong giây lát. Bên mặt các ngài là phòng Thanh niên Thể dục nối liền với Bảo Đại thư viện. Bên trái là Nông Công Bảo tàng viện, Lịch sử Bảo tàng viện nằm giữa”18.
![]() |
| Bài viết về Lịch sử Bảo tàng viện của cố học giả Bửu Kế trên tờ Tiểu thuyết thứ bảy, số 487 (13/11/1943). Nguồn: Thư viện Quốc gia Việt Nam |
Theo mô tả của cố học giả Bửu Kế, sau khi bước qua cánh cổng tam quan của trường, ngay chính giữa lối ra vào là tấm bia Huỳnh tự thư thanh được dựng phía trước Di Luân đường (cạnh bồn hoa). Tiếp đó, qua khỏi một khoảng sân là đến Di Luân đường, ở 2 bên mái hiên đặt 2 cái chuông (đúc dưới thời vua Minh Mạng), cạnh đó tấm bia đá cổ được phát hiện tại một nhà Phước ở Phủ Cam (Huế), khắc ghi nội dung: “ông Iacob Rooper hạm trưởng chiếc tàu của Ấn Độ - Hòa Lan được đặc quyền của hãng công ty Đông Ấn giao cho, tạ thế ngày 12 Novembre 1756, đã yên giấc ngàn năm và chôn cất lại đây”19. Tấm bia này chính là bia mộ của ông Iacob Rooper (Hạm trưởng chiếc tàu của công ty Đông Ấn) tạ thế vào ngày 12/11/175620. Trước đó, do không hiểu được giá trị lịch sử, nên tấm bia này được người dân sử dụng để mài dao và rửa chén bát.
Lối vào Di Luân đường chỉ mở các cánh cửa mặt trước, hệ thống cửa hai bên đều đóng kín, nhưng để đảm bảo đủ ánh sáng, người ta đã cho lắp thêm hệ thống kính. Tầng trên là nơi thiết trí bài vị thờ Khổng Tử và các liệt thánh. Về việc bố trí trưng bày của Viện Bảo tàng Lịch sử, các hiện vật ở đây được tập trung tại tầng 1 của Di Luân đường, “phô ra giữa phòng hoặc để trong tủ hay treo lên tường”21. Theo đó, người ta bày trí 5 “hình nhân” đàn ông mặc áo đại triều, đội mũ, đi hia, cầm hốt và 4 “hình nhân” phụ nữ mang áo công chúa, mệnh phụ, được đặt rải rác quanh phòng. Chính giữa phòng (tầng dưới) đặt một cái bàn gỗ đen, mặt đá, đây là hiện vật gắn liền với sự kiện ký kết Hòa ước Giáp Thân (Hòa ước Patenôtre) ngày 06/6/1884. Kế cận đó là cái bàn trưng bày một thanh gươm do hoàng đế nhà Nguyễn ban tặng cho công chúa khi hạ giá22. Sát bên thanh gươm này là “một thanh gươm của viên tướng Y Pha Nho [Tây Ban Nha] dự trận chiến năm 1859 - 1860 ở cửa bể Tourane [Đà Nẵng]”23, rồi một khẩu súng lục của ông Rheinard tặng cho Gia Hưng vương.
Chiếm số lượng lớn trong không gian trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử chính là các văn kiện, thư tín giữa triều đình Huế với Pháp, như Hòa ước Nhâm Tuất (05/6/1862), Hòa ước Giáp Tuất (15/3/1874) và Hòa ước Giáp Thân (06/6/1884). Mỗi văn bản Hòa ước như vậy đều làm thành 2 bản, gồm một bản tiếng Pháp và một bản Hán văn. Đặc biệt, tại đây còn lưu giữ 2 bức thư Napoléon III gửi cho vua Tự Đức về việc phái bộ Phan Thanh Giản ngày 10/11/1863, và thư Napoléon III gửi vua Tự Đức, về việc bổ nhiệm Ohier làm Thống đốc Nam Kỳ ngày 28/8/1869.
Tại đây còn lưu giữ khá nhiều thư tịch, văn bản Hán Nôm, bản đồ, tranh ảnh, như một số tập thơ ngự chế của vua Minh Mạng, bản dụ của vua Thiệu Trị về việc “phân phòng tứ bộ” để đặt tên cho con cháu trong hoàng tộc; các loại đơn từ về việc xin lập chùa, xin cúng ruộng chùa có niên đại từ thời Lê (niên hiệu Vĩnh Thịnh, Bảo Thái, Long Đức, Cảnh Hưng), địa đồ nước Đại Nam (1838), bản đồ Huế (1885, 1890); ảnh và bản vẽ cầu Đông Ba (1888), chợ Đông Ba (1889). Đặc biệt là bộ sưu tập các bản đồ dinh, phủ thời chúa Nguyễn: Bản đồ dinh Ái Tử (1558 - 1570), dinh Trà Bát (1570 - 1600), Dinh Cát (1600 - 1626), phủ Phước Yên (1626 - 1636), phủ Kim Long (1636 - 1687), Phú Xuân lần 1 (1687 - 1712), Bác Vọng (1712 - 1738) và Phú Xuân lần 2 (1738 - 1775). Rồi các bức tranh vẽ, ảnh chụp các nhân vật, như Alexandre de Rhodes, Jean-Baptiste Chaigneau, Nguyễn Văn Tường, Caspar, De Courcy, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp.
![]() |
| Bản vẽ chiếc khánh đá (1724) của họa sĩ Tôn Thất Sa. Nguồn: Bulletin des Amis du Vieux Hué, 1915 |
Cùng với đó, là khu vực trưng bày y phục của binh lính thời Nguyễn (Long thuyền, Võ lâm, Tuyển phong), y phục của người Việt Nam năm 1679, bức tranh lụa vẽ chiếc Long thuyền được vua Gia Long sử dụng và hai tấm bản đồ thủy chiến, bộ chiến. Ngoài ra không thể không nói đến bộ sưu tập các chén, dĩa ký kiểu dưới thời vua Thiệu Trị và một cái khánh bằng đá treo trên giá gỗ, khắc dòng chữ: Quốc chúa ngự thư (國主御書), khắc bài minh văn của Minh vương Nguyễn Phúc Chu vào ngày 03 tháng 10 năm Giáp Thìn, niên hiệu Bảo Thái năm thứ 5 (1724)24. Sách trưng bày tại Viện Bảo tàng Lịch sử phần lớn là sách chữ Latinh, được các cha cố đạo mang theo lúc mới sang nước ta truyền giáo, như cuốn Tự điển Annam-Latinh, sách Kinh Thánh viết bằng chữ Quốc ngữ, ấn hành năm 177425.
Như vậy, có thể thấy, kể từ khi dời dựng về vị trí hiện nay, các công trình trong khuôn viên trường Quốc Tử Giám bên cạnh chức năng vốn có là nơi học tập, giảng dạy, thì sau ngày chấm dứt hoạt động đây còn là địa điểm được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. Thông tin về việc thành lập Viện Bảo tàng Lịch sử có ý nghĩa hết sức đặc biệt. Điều đó cho thấy, trước năm 1945, việc thiết lập một Bảo tàng để sưu tầm, bảo quản, nghiên cứu và trưng bày các loại hình di sản văn hóa gắn liền với vùng đất và con người xứ Huế sớm đã được chính quyền quan tâm. Thú vị hơn, sau đó gần 40 năm (1943 - 1982), toàn bộ diện tích và cơ sở vật chất của trường Quốc Tử Giám lại tiếp tục được sử dụng để làm trụ sở của Bảo tàng Bình Trị Thiên26 - tiền thân của Bảo tàng Lịch sử thành phố Huế hiện nay.
Đ.M.Đ
(TCSH448/06-2026)
--------------------
1 Henri Cosserat, Léopold Michel Cadière, Tuyển tập đồ bản và địa danh Kinh thành Huế, Phùng Đức Trung dịch, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2023, tr. 229.
2 Henri Cosserat, Léopold Michel Cadière, Tuyển tập đồ bản và địa danh Kinh thành Huế, Sđd, tr. 229.
3 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục Chính biên, Đệ lục kỷ phụ biên, Bản dịch Cao Tự Thanh, Nxb. Văn hóa - Văn nghệ, 2012, tr. 560.
4 A. Sallet, Léo Craste, Jabouille, Jean Henri Peyssonnaux, Bảo tàng Khải Định, Bảo Chân dịch, Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2020, tr. 44.
5 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên, đệ thất kỷ, Bản dịch Cao Tự Thanh, Nxb. Văn hóa Văn nghệ, 2012, tr. 280.
6 Trần Thị Xuân, “Cổ học viện và nền cựu học triều Nguyễn đầu thế kỷ XX”, Tạp chí Hán Nôm, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, số 3 (172), 2022, tr. 42.
7 A. Sallet, Léo Craste, Jabouille, Jean Henri Peyssonnaux, Bảo tàng Khải Định, Sđd, tr. 11.
8 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, chính biên, đệ thất kỷ, Sđd, tr. 391.
9 Thực nghiệp dân báo, Cái cảm tưởng đối với Cổ hội viện ở kinh sư, số 928 (20/11/1923), tr. 1.
10 Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, Quốc sử quán qua Châu bản triều Nguyễn (1802 - 1945), Nxb. Thông tin và Truyền thông, 2019, tr. 272-273.
11 Báo Tràng An, Cần phải có một hội Văn chương, Mỹ thuật và Thể thao ở kinh đô, số 12 (09/4/1935), tr. 1.
12 Báo Tràng An, Một vài điều cần phải sửa đổi ở Thư viện Bảo Đại, (phụ trương Tràng An báo), số 124 (19/5/1936), tr. 1.
13 Di tích Quốc Tử Giám được UBND tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là UBND thành phố Huế) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất, số BK 829879, thửa đất số 32, tờ bản đồ số 27, diện tích 24.604,7m2, cấp ngày 17/12/2013 cho Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Ngày 14/9/2021, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế ban hành Quyết định số 2270/QĐ-UBND về việc điều chỉnh phân cấp quản lý di tích đã được xếp hạng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế, theo đó Di tích Quốc Tử Giám giao Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế trực tiếp quản lý.
14 Tiểu thuyết thứ bảy, Nhân quan Toàn quyền đại thần Decoux vừa đến thăm: Lịch sử Bảo tàng viện (Musée Historique) mới thành lập ở Huế, số 487 (13/11/1943), tr. 14.
15 Nhà văn, dịch giả Bửu Kế (1913 - 1989), sinh quán tại thành phố Huế. Năm 1934, ông tốt nghiệp và tham gia giảng dạy tại các trường Trung học Đồng Khánh, Cao đẳng Mỹ thuật, Đại học Văn khoa Huế, Viện Hán học Huế. Ông chuyên viết về đề tài cổ học và các di tích ở Huế, nên trong giới học thuật thường gọi ông là nhà Huế học hay nhà Cố đô học. Ông chính là thân sinh của nhà nghiên cứu Vĩnh Cao (1946 - 2024), một nhà Hán học uyên thâm, am tường Dịch lý, tác giả của rất nhiều công trình nghiên cứu, biên dịch rất giá trị.
16 Tiểu thuyết thứ bảy, Nhân quan Toàn quyền đại thần Decoux vừa đến thăm: Lịch sử Bảo tàng viện (Musée Historique) mới thành lập ở Huế, Bđd, tr. 13.
17 Bulletin administratif de l’Annam, Année 1943 - N0 12 (16 juillet 1943), p. 1312.
18 Tiểu thuyết thứ bảy, Nhân quan Toàn quyền đại thần Decoux vừa đến thăm: Lịch sử Bảo tàng viện (Musée Historique) mới thành lập ở Huế, Bđd, tr. 13.
19 Tiểu thuyết thứ bảy, Nhân quan Toàn quyền đại thần Decoux vừa đến thăm: Lịch sử Bảo tàng viện (Musée Historique) mới thành lập ở Huế, Bđd, tr. 13.
20 Tấm bia này hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử thành phố Huế.
21 Tiểu thuyết thứ bảy, Nhân quan Toàn quyền đại thần Decoux vừa đến thăm: Lịch sử Bảo tàng viện (Musée Historique) mới thành lập ở Huế, Bđd, tr. 14.
22 Tương truyền, thường lệ mỗi khi các bà Chúa hạ giá lấy chồng sẽ được triều đình ân ban một thanh gươm, còn phò mã là chiếc roi, để nhắc nhở rằng, quyền uy của phò mã không thể bằng công chúa được.
23 Tiểu thuyết thứ bảy, Nhân quan Toàn quyền đại thần Decoux vừa đến thăm: Lịch sử Bảo tàng viện (Musée Historique) mới thành lập ở Huế, Bđd, tr. 14.
24 Chiếc khánh này được phát hiện tại làng La Chử (phường Kim Trà, thành phố Huế) vào năm 1915, sau đó người dân đem tặng cho Hội Đô thành Hiếu cổ (Association des Amis du Vieux Hué). Khánh đá hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế.
25 Tiểu thuyết thứ bảy, Nhân quan Toàn quyền đại thần Decoux vừa đến thăm: Lịch sử Bảo tàng viện (Musée Historique) mới thành lập ở Huế, Bđd, tr. 17.
26 Vào ngày 30/10/1982, Bảo tàng Bình Trị Thiên (trực thuộc Ty Văn hóa và Thông tin tỉnh Bình Trị Thiên) được thành lập (quyết định số 1367/QĐUB), trên cơ sở tiếp nhận toàn bộ diện tích, cơ sở vật chất của trường Quốc Tử Giám. Năm 1989, sau khi Bình Trị Thiên được tách thành ba tỉnh, Bảo tàng Bình Trị Thiên đổi tên thành Bảo tàng Tổng hợp Thừa Thiên Huế (9/1989). Ngày 20/10/2008, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế ký quyết định số 2395/QĐ-UBND về việc thành lập Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng. Đến ngày 08/7/2016, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã ra quyết định số 1564/QĐ-UBND, đổi tên từ Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng thành Bảo tàng Lịch sử Thừa Thiên Huế. Từ ngày 01/01/2025, đổi thành Bảo tàng Lịch sử thành phố Huế. Ngày 06/02/2025 và 07/02/2025, Bảo tàng Lịch sử cùng đại diện lãnh đạo các cơ quan, đơn vị liên quan đã tiến hành các thủ tục về việc chuyển giao Khu nhà thuộc di tích Quốc Tử Giám, cho Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế sau khi Bảo tàng di dời đến địa điểm mới (số 268 đường Điện Biên Phủ, thành phố Huế).