Tác giả-tác phẩm
Phạm Thiên Thư - Bồng bềnh giữa cõi đời và đạo
08:31 | 26/06/2026

PHẠM PHÚ PHONG

Phạm Thiên Thư sinh ngày 1/1/1940, tên thật là Phạm Kim Long, quê gốc ở Kiến Xương, Thái Bình, nhưng sinh tại Lạc Viên, Hải Phòng, trong một gia đình giỏi nghề thuốc Đông y nhưng mê thơ văn.

Phạm Thiên Thư - Bồng bềnh giữa cõi đời và đạo
Nhà thơ Phạm Thiên Thư - Ảnh: tư liệu

Năm 1943 - 1951 ông sống trong trang trại Đá Trắng, Chi Ngãi, Chí Linh, Hải Dương. Năm 1954, theo gia đình vào cư ngụ tại Sài Gòn. Năm 1964 - 1973, tu sĩ Phật giáo, làm thơ. Năm 1973, hoàn tục, cũng là năm ông được Giải thưởng Văn chương toàn quốc (miền Nam) với tác phẩm Đoạn trường vô thanh. Năm 1973 - 2000, nghiên cứu, sáng lập, truyền bá môn dưỡng sinh Điện công Phathata (viết tắt của PhápThân-Tâm). Ông là tác giả của các tác phẩm: Thơ Phạm Thiên Thư (1968), Kinh Ngọc (thi hóa Kinh Kim Cương), Động hoa vàng (thơ, 1971), Đạo ca (viết lời cho nhạc Phạm Duy, 1971), Đoạn trường vô thanh (1972), Kinh Thơ (thi hóa Kinh Pháp Cú), Quyên từ độ bỏ thôn Đoài (thơ, 1974), Kinh Hiếu (thi hóa kinh?), Kinh Hiền (thi hóa Kinh Hiền Ngu, gồm 12.000 câu lục bát), Ngày xưa người tình (thơ, 1974), Trại hoa đỉnh đồi (thơ, 1975), Thơ Phạm Thiên Thư (Nxb. Đồng Nai tái bản, 1986), Thi hóa Kinh Lăng Nghiêm (Nxb. Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006), Tự điển cười, (24.000 bài tứ tuyệt tiểu liệu pháp, 2007), Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam, trao kỷ lục là người đầu tiên viết Tự điển cười bằng thơ), Vua núi vua nước (tức Sơn Tinh Thủy Tinh, Nxb. Văn hóa thông tin, 2003).

Xuất thân trong một gia đình làm nghề thầy thuốc, nhưng người cha của Phạm Thiên Thư lại say mê thơ ca và từng đạt giải Nhì trong một cuộc thi thơ do một tờ báo ở Hà Nội tổ chức. Quê ở Kiến Xương, Thái Bình, nhưng ông được sinh ra ở Hải Phòng và trải qua thời thơ ấu ở Hải Dương, trước khi cùng với gia đình vào định cư tại Tân Định, Sài Gòn (1954). Ông từng giải thích cho việc gia đình phải “trôi dạt nhiều nơi” rằng: “Tôi là cháu của nhà cách mạng Hào Lịch nổi tiếng ở Thái Bình. Bố tôi vừa làm thuốc Nam, vừa làm liên lạc cho ông Hào Lịch. Chúng tôi bị giặc Pháp khủng bố gắt gao, nên trôi dạt nhiều nơi” [1]. Phạm Thiên Thư lại là người say mê Phật học, từng là sinh viên Viện Đại học Vạn Hạnh, rồi xuất gia và bắt đầu làm thơ khi đang là một tu sĩ (1964 - 1973), nhưng làm thơ đối với ông chỉ là để trải lòng với bạn bè, người thân, trả nợ với đời chứ không mang tính chuyên nghiệp. Vì vậy, đến năm 1968, ông mới tự xuất bản tập thơ đầu tay của mình, lấy bút danh làm tựa đề là Thơ Phạm Thiên Thư, chủ yếu là in “để chơi”, để tự mình đọc và tặng bạn bè, người thân. Những bài thơ đầu tay là những bài thơ tình (Vết chim bay, Thoáng hương qua, Động hoa vàng), nên không ít người cho rằng, ông đi tu mà lòng vẫn hướng về cõi tục, nhưng tự mình ông biết mình tu là vì cái gì và tu như thế nào, khi cho rằng: “Tôi tu theo cách của mình, tu để sống cuộc đời của mình, nuôi dưỡng lối tư duy và trí tuệ của mình” [2]. Đó là mục tiêu và con đường sớm đưa ông đến với cửa Thiền. Còn đối với thơ, ông cũng có một quan niệm minh bạch và khá độc đáo rằng: “Tôi quan niệm, thơ hay thì phải qua nhiều trải nghiệm, phải chiếm cảm quan, phải san trí tuệ, phải để trong tâm, phải trầm trong nhạc, phải nạp trong tình, tụ hình tới khoảng trống (vô thức) để sống với tất cả (...). Đương nhiên thơ tôi có những câu thơ chưa đạt. Tôi viết vì tấm lòng mà thôi. Tôi muốn nhắc thế hệ trẻ là phải biết vượt lên tiền nhân, không bao giờ tự ti với bản thân. Đạt hay không cứ để hậu thế phán xét. Xin cứ xem đây như là một khát vọng, chứ không phải tham vọng nào cả” [3, tr.14]. Lối nói vần vè nhưng hết sức cô đọng của ông, trong đó yêu cầu phải cấu trúc đầy đủ mọi thành tố của một chỉnh thể nghệ thuật, mới có thể tạo nên một sinh thể nghệ thuật đầy ấn tượng và giàu mỹ cảm: cảm quan, cảm xúc, tình cảm, nhạc tính, trí tuệ, và có cả vô thức nữa. Bên cạnh đó, ông còn hết sức khiêm tốn một cách thật lòng và khát vọng chân thành gửi gắm ở thế hệ mai sau.

Nếu chỉ tính đầu sách, Phạm Thiên Thư chỉ có 6 tập thơ, 5 tập “thi hóa” kinh Phật, nhưng thơ ông ít có bài ngắn, chủ yếu là những bài thơ dài mang tính tự sự, trong đó có những tập như Đoạn trường vô thanh, Kinh Hiền hoặc Tự điển cười dài hàng chục nghìn câu, gộp cả lại, ông là chủ nhân của một gia sản khá đồ sộ có đến hơn 126.000 câu thơ (hơn cả sử thi Ấn Độ chỉ mới dừng ở 124.000 câu!). Về đề tài, dễ nhận ra Phạm Thiên Thư đi sâu vào hai mảng hiện thực thuộc hai lĩnh vực đời sống, đó là thơ tình/ những câu chuyện tự sự kể về tình yêu nam nữ, và “thi hóa” kinh Phật/ đưa nội dung kinh Phật đến với người đọc, không chỉ có Phật tử, mà cả những công chúng yêu thơ. Nhưng là người đã từng xuất gia, là nhà Phật học, đã thấm nhuần giáo lý và triết lý nhà Phật, cả hai lĩnh vực trong thơ ông đều có sự giao thoa, xuyên thấm và tích hợp nội dung mỹ cảm giữa đời và đạo. Hà Thi có lý khi cho rằng: “Thơ Phạm Thiên Thư cứ vấn vít nửa đời nửa đạo thật khác thường, làm cho độc giả ngẩn ngơ, bất ngờ... Thế giới thi ca Phạm Thiên Thư giúp chúng ta khám phá thêm những cửa ngõ mới lạ, phong phú về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên (...). Ông viết Động hoa vàng vào những ngày đầu ngấm giáo lý nhà Phật, như đánh dấu mình vào một cõi của chính mình trong thi đàn... Những câu thơ đẩy cái đạo đời bềnh bồng trên cõi Phật, làm hiện hữu cái cuộc đời đáng sống trên cái mênh mang bao la của phù vân hư ảo” [4], bằng những lời tình tự, một cách nhẹ nhàng, lãng mạn nhưng không thiếu chút đắm say:

Rằng xưa có gã từ quan
Lên non tìm động hoa vàng ngủ say (...)
Đợi nhau tàn cuộc hoa này
Đành như cánh bướm đồi tây hững hờ
Tìm trang lệ ứa hàng thơ
Chữ xưa quyên dục bây giờ chim đi

Người ta nói rằng, hoa vàng là biểu tượng trở đi trở lại nhiều lần trong thơ Phạm Thiên Thư. Dường như hoa vàng luôn tràn ngập trong tâm hồn ông, là nỗi hoài niệm từ trong ký ức, mỗi lần những câu chữ tuôn trào thành thơ là lúc ông nhón lấy những đóa hoa vàng từ trong ký ức đem phơi ra dưới từng câu chữ, bởi từ thuở còn ở Chí Linh (Hải Dương, 1942), gia đình đã sở hữu một ngọn đồi mà “hoa cúc dại vàng mênh mông, bát ngát chạy dài che khuất đường chân trời” [5], rồi đến khi chuyển về ở căn nhà cuối xóm khu cư dân nghèo đường Hàng Keo, tức cù lao Phan Xích Long “đầu ngõ nhà của nhà thơ có cây hoa vàng rực”, đến ngôi nhà ở Trần Kế Xương (Phú Nhuận) cũng có và cho đến bây giờ ông là chủ nhân quán cà phê Hoa Vàng ở đường Hồng Lĩnh, khu cư xá Bắc Hải (Quận 10). Chính căn nhà ở cù lao Phan Xích Long là nơi ra đời của bài Động hoa vàng (1968), cũng là nơi cư ngụ của các hàng xóm tên tuổi như Trụ Vũ, Thụy Long, nơi thường lui tới của Phạm Duy, Sơn Nam, Bùi Giáng, Nguyễn Đức Quỳnh, nhà sử học Nguyễn Nhã... và nhờ cái duyên gặp gỡ giữa hai tâm hồn đong đưa đồng điệu mà bài thơ của ông đã vang xa trên những vòm cong âm thanh của người nhạc sĩ tài hoa, chuyển động nhẹ nhàng thành Đưa em tìm động hoa vàng. Phạm Duy trở thành người phổ nhạc đối với thơ của ông nhiều nhất, ngoài mười bài đạo ca, còn có các bài nổi tiếng như Đưa em tìm động hoa vàng, Ngày xưa Hoàng Thị, Gọi em là đóa hoa sầu, Em đi lễ chùa này, Huyền thoại tên một vùng biển, Loài chim bỏ xứ...

Theo Phạm Thiên Thư công bố với giới truyền thông, bài thơ đầu tay của ông là bài Vết chim bay, ông làm năm 24 tuổi (1964) khi mới nương thân nơi cửa Phật. Ngày ấy, người đi học thường tìm đến sân, hoặc vườn của các chùa, là nơi yên tĩnh để ôn bài, học thi. Có một cô nữ sinh cứ mỗi chiều đến chùa Vạn Thọ (gần kênh Nhiêu Lộc), nơi Phạm Thiên Thư vừa thọ giới với pháp danh là Thích Tuệ Không, để học bài. Cô đẹp và thánh thiện như ánh sáng của Quan Thế Âm Bồ Tát, gây ít nhiều thương mến trong lòng chàng thi sĩ tương lai. Hai người quen biết nhau trong một thời gian không dài, bỗng nhiên nàng không đến nữa. Chiều nào chàng trai mới bước vào ngưỡng cửa tuổi đôi mươi cũng ngồi bên hiên chùa chờ đợi, trong sự đơn côi, nuối tiếc. Nhìn nét phấn trắng còn ghi tên hai người trên gác chuông, lòng buồn thương và nhớ nhung những ngày đã xa, tâm hồn chàng gõ nhịp ngân vang những câu thơ:

Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Con chim nào qua đó
Còn để dấu chân in...
Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm

Thơ tình của Phạm Thiên Thư hầu hết đều là những câu chuyện tự sự. Câu chuyện trên đây gần trùng với sự kiện ra đời bài thơ Thoáng hương bay (Phạm Duy phổ nhạc thành Em đi lễ chùa này), khi người ta kể rằng, chính thời gian ở chùa ông chứng kiến mối tình của một chú tiểu và một cô bé Phật tử 16 tuổi cùng trang lứa. Cứ mỗi lần đi lễ chùa, thấy chú tiểu tụng kinh, cô bé cứ liếc nhìn trộm và nguyện cầu cho tình yêu của mình được bền chặt:

Đầu xuân em lễ chùa này
Có búp lan vàng khép nép
Vườn trong thoáng làn hương bay
Bãi sông lạc con bướm đẹp
Vào hạ em lễ chùa này
Trên đồi trái mơ ửng chín
Lò hương có làn trầm bay
Vờn trên bờ tóc bịn rịn

Là câu chuyện tự sự đẫm nước mắt, vì chiến tranh loạn lạc, cô bé chết vì bom đạn vào mùa đông giá rét, chú tiểu gạt nước mắt: “Cuối đông đưa em tới đây/ Trong lòng áo quan gỗ trắng/ Tóc em tợ óng làn mây/ Cội hoa tưởng ai trầm lặng”. Là tín nữ thuần thành của nhà Phật, gia đình đã xin an táng em sau chùa, nơi những bông hoa còn nở một cách hững hờ. Mỗi chiều, chú tiểu lại ra thắp nhang và ngồi bên mộ, nghĩ về tình yêu và lẽ hư vô, dưới ánh sáng huyền diệu của Phật pháp và giọng hót buồn nức nở của chú chim non:

Nắm đất nào vừa lấp mộ
Có con chim hót đầu cành
Tiếng tan trên dòng suối xanh
Nước ơi sao buồn nức nở

Nhưng có lẽ chuyện tình nổi tiếng nhất trong sáng tác của Phạm Thiên Thư là Ngày xưa Hoàng Thị, ông kể về mối tình đơn phương của mình với người bạn gái học cùng lớp ở trường Trung học Văn Lang (Tân Định, Sài Gòn) - một mối tình học trò e ấp, thầm kín đến mức khi làm thơ, ông cũng tách tên họ nàng ra: họ thì đặt tựa đề, tên thì đưa vào nội dung, nhắc đi nhắc lại: “Em tan trường về/ Đường mưa nho nhỏ/ Anh theo Ngọ về/ Bước dài lặng lẽ (...) Em tan trường về/ Cuối đường mây đỏ/ Anh tìm theo Ngọ/ Dấu lau lách buồn (...) Em đi dịu dàng/ Bờ vai em nhỏ/ Chim non lề đường/ Nằm im giấu mỏ/ Anh theo Ngọ về/ Gót giày lặng lẽ (...) Mười năm rồi Ngọ/ Tình cờ qua đây/ Cây xưa vẫn gầy/ Phơi nghiêng dáng đỏ...”. Lại thêm một câu chuyện tình có thật, thoáng nhẹ vu vơ thời trai trẻ của chính tác giả. Ông kể rằng, trong những năm cuối cấp phổ thông, ông để ý đến một cô bạn cùng lớp nhưng nhỏ hơn ông hai tuổi, tên là Hoàng Thị Ngọ, quê gốc ở Hải Dương, vào Sài Gòn ở gần nhà ông. Ngày ấy, mỗi khi xếp hàng vào lớp, cô gái đứng đầu hàng bên nữ, nổi bật với mái tóc dài xõa trên bờ vai mảnh dẻ. Ông đứng cuối hàng bên nam, lặng lẽ ngắm nhìn. Khi tan trường, cô gái ôm cặp đi trước, ông lẽo đẽo theo sau nhưng không dám lên tiếng. Trong bóng nắng chiều hắt qua hàng cây, cô gái trong tà áo dài trắng trinh nguyên lặng lẽ bước đi, gây cho chàng trai tuổi mới lớn đang nhẹ bước theo sau biết bao nhiêu cảm xúc. Cứ thế, mỗi ngày trong bóng chiều, bóng áo trắng nhẹ nhàng và chiếc bóng lặng lẽ ngập tràn cảm xúc được giấu kín tận đáy lòng trôi theo bước chân năm tháng:

Bao nhiêu là ngày
Theo nhau đường dài
Trưa trưa chiều chiều
Thu đông chẳng nhiều
Xuân qua rồi thì
Chia tay phượng nở/ sang hè

Bài thơ dài hơn ba mươi câu, theo thể thơ bốn chữ giàu nhạc điệu. Những câu sáu chữ cuối mỗi đoạn là do người nhạc sĩ tài hoa thêm vào để có thêm sự luyến láy, thênh thang, bay bổng một cách nhịp nhàng lan tỏa theo nhịp điệu tâm hồn của tuổi thanh xuân. Ngày xưa Hoàng Thị được nhà thơ sáng tác năm 1966, sau mười năm ông trở lại đi trên con đường xưa và ký ức tràn về cồn cào réo gọi, nhưng nó thật sự có sức sống mới và lan tỏa mạnh mẽ dưới đôi tay gõ nhịp tài hoa của nhạc sĩ Phạm Duy, được công bố lần đầu vào năm 1971, qua tiếng hát của Thái Thanh. Những tình khúc của Phạm Duy phổ từ thơ của Phạm Thiên Thư như Ngày xưa Hoàng Thị, Đưa em tìm động hoa vàng, Em đi lễ chùa này... đã trở thành những tình khúc bất hủ trong nền âm nhạc nước ta. Có thể nói, nếu như thơ Nguyên Sa có sức sống mới trong một hệ hình nghệ thuật âm thanh nhờ có Ngô Thụy Miên, thì tương tự, thơ Phạm Thiên Thư cũng lan tỏa mạnh mẽ nhờ có những lớp sóng nhạc của Phạm Duy. Những tình khúc đó không chỉ có âm vang của tình yêu cuộc sống mà còn thấm đẫm mùi vị thiền học của Phật môn.

Ký ức về Hoàng Thị Ngọ sau này còn phảng phất trong nhiều bài thơ của ông, như bài Giai nhân là sự nối dài bóng hình năm cũ:

Em là giai nhân
Ta là thi sĩ
Gặp em một lần
Mà nhớ chung thân
Nếu ta ở gần
Chung nhau một lối 
Dễ ngàn bài thơ
Viết trong một tối
Vì em là thần
Phải không giai nhân?

Tác phẩm được giải thưởng cao nhất trong văn học miền Nam thời bấy giờ (1973) là Đoạn trường vô thanh của nhà thơ, càng thấy rõ hơn sự quyện chặt giữa đờiđạo, ngay từ trong cảm thức sáng tạo đến nội dung mỹ cảm: “Tôi có mong muốn nối dài cuộc đời của Kiều. Trong cuộc đời Kiều đã phải mang nhiều đau khổ không thể bộc lộ hết được. “Vô thanh” là lý do như vậy, Đoạn trường vô thanh: nỗi đau đứt ruột không thốt nên lời. Tôi muốn viết Đoạn trường vô thanh mang thuần túy hồn vía Việt Nam. Trong tập thơ này có thêm nhiều nhân vật mới xuất hiện. Đoạn trường vô thanh mượn đoạn sau của đời Kiều để mô tả cõi “phù du mộng”, cái vô tướng, vô ngã của cuộc đời thông qua từng nỗi đau nhân thế cũng như thân phận của con người: “Giam trong tài mệnh giả chân/ Trăm năm hồ dễ một lần bay cao” (Đoạn trường vô thanh)... Với Đoạn trường vô thanh tôi muốn chuyển tải tiếng lòng, nỗi đau không nói nên lời của Kiều tới tha nhân, hầu mong để hiểu và chia sẻ với một đấng tài hoa, bạc mệnh. Trong Đoạn trường vô thanh mô tả Kiều khi về lại cố hương và chính nàng chợt nhận ra rằng, quê hương chính là nơi để suy nghiệm, dự phóng tư tưởng, đoạn trừ bao khổ lụy, hướng về những khát vọng muôn thuở của con người. Một nàng Kiều trở về cố hương với xiết bao ngỡ ngàng: “Bao năm vẫn một mùi hương/ Trước sau thơm đến dị thường trong ta/ Phải chăng hoa của quê nhà/ Thơm trong hoài niệm vẫn là mãi tươi?” (Đoạn trường vô thanh) [6, tr.15]. Cuộc đời là cõi hư vô. Cái duyên, cái nghiệp, cái vô thường của kiếp phù vân hư ảo ở cuộc đời con người, cần phải thức tỉnh như nhân vật Trang Sinh:

Cây cầu lửng giữa chiêm bao
Phải chăng cửa ngõ đi vào huyền căn
Tiếng tơ kết kén ôm tằm
Biết đâu hóa bướm trăm năm một lần

                        (Đoạn trường vô thanh)

Cũng do cái duyên của người say mê Phật học, Phạm Thiên Thư đã viết lời mười bài Đạo ca cho Phạm Duy phổ nhạc và trở thành người “thi hóa” năm bộ kinh Phật đưa đến với công chúng và Phật tử. Chính từ trong những bài đạo ca và những lần hạnh ngộ, đã tạo mối “lương duyên” cho hai con người tài hoa đã trở thành tri âm tri kỷ, bởi vì “anh Phạm Duy đã nói với anh Quỳnh (nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh - NV) rằng những bài về đạo của tôi nghe rất gần với đời nên anh đã phổ một loạt mười bài đạo ca vào năm 1971. Trước khi anh phổ nhạc, anh đã nhiều lần hỏi tôi thế nào là đạo ca? Tôi đã trả lời “đạo” là con đường dẫn đến giải thoát, còn “ca” là con đường nghiệp dĩ mà anh Duy đã chọn” [7]. Còn về những bộ kinh Phật được ông chuyển ngữ thành thơ - một thứ ngữ ngôn của trần thế; có nghĩa ông chuyển giáo lý nhà Phật trở thành ngôn từ của đời sống. Làm công việc đưa những tư tưởng cao siêu, uyên áo của Phật về với đời sống trần tục của con người. Đó là một kỳ công. Bởi vì kinh Phật là triết luận, là thức nhận chân lý, người đọc kinh phải thấu hiểu đến tận cùng mọi lý lẽ, lại cần phải có một tình yêu nồng cháy, một cảm xúc tuôn trào của một tâm hồn thi sĩ, một tài thơ lão luyện đến mức thượng thừa, mới có thể làm được công việc phức tạp và độc đáo này. Cũng không ít “ý kiến băn khoăn rằng phương pháp này sẽ làm cho kinh không còn giữ được giá trị uyên áo vốn dĩ nữa mà sẽ trở nên... thất kinh” (Bảo Trung). Về việc này, ông đã trả lời một cách minh bạch: “Tôn giáo thường đem mình đồng hóa mọi người, còn tôi làm thơ là tìm cách phân thân mình ra thành một người khác để ngắm mình rõ hơn. Theo thiển ý của tôi, muốn chở được đạo, phải nhờ “con thuyền nghệ thuật” mới đi vào thẳm sâu lòng người một cách sâu sắc được. Nhiều bậc chân tu khi đọc những tác phẩm dạng này của tôi, họ rất thích thú bởi qua một lần chuyển ngữ, những giá trị sâu sắc của tư tưởng Phật giáo không hề mất đi giá trị uyên nguyên của nó mà lại dễ dàng lay thức lòng người hơn” [8, tr.15]. Ông còn ví dụ trong bài kệ chính yếu của Kinh Kim Cương có đoạn sau đây: “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhơn hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”. Thật là khó mà hiểu nổi. Là người xuất thân từ cửa Phật, ông thấu hiểu và dịch nghĩa như sau: “Nếu đem sắc thì người ấy đã lạc tướng để mong nhìn thấy ta, hoặc đem âm thanh để nhận biết ta thì người ấy đã lạc đường, không thể nào gặp được Như Lai”. Và từ đó, ông thi hóa theo thể thơ năm chữ như sau:

Dùng thân vàng thấy Phật
Dùng khánh ngọc cầu ta
Người đó lạc tà đạo
Đũa ngọc gắp sao tà
                       
(Kinh Ngọc) 

Từ năm 1753, nhà tự nhiên học người Pháp là Buffon có nói rằng: “Phong cách chính là con người” [9, tr.188]. Có lẽ, từ đó người ta vận vào văn chương trở thành một nguyên lý: “văn là người”. Phạm Thiên Thư cũng không là ngoại lệ. Đức Phật dạy rằng: “Mọi chúng sinh đều có Phật tánh”. Ông là một người giác ngộ phật pháp, hẳn nhiên cũng là người đã được đánh thức Phật tánh, nhưng thơ ông là thế giới của tình yêu lãng mạn. Một thứ tình yêu chưa chín đến mức nồng nàn nhưng vẫn có chút đắm say. Tình yêu trong thơ ông chỉ là bóng chứ chưa là hình. Nó thánh thiện, nhẹ nhàng, kín đáo và mong manh dễ vỡ. Dường như chỉ khẽ chạm vào là tan biến thành khói sương xa mù khuất nẻo. Ông ủ men trong cảm xúc và ngôn từ, thành một tinh chất nửa đời nửa đạo, tâm linh khác thường, tưởng như gần gũi mà thành xa xôi: “Em làm trang tôn kính/ Anh làm nhà sư buồn/ Đêm đêm buồn tụng đọc/ Lòng chợt nhớ vương vương/ Đợi nhau từ mấy thuở/ Tìm nhau cõi vô thường/ Anh hóa thân làm mực/ Cho vừa giấy yêu đương” (Pháp thân). Trong đời sống, ông cũng yêu nhiều, luôn thể hiện một tình yêu mãnh liệt, đôi khi tinh tế, nhưng nét nổi bật là thuần phác, nghiêng hẳn về nội cảm, một kiểu nội cảm trong cô đơn, thiền định, nhưng rất kiên định. Ông có đến ba đời vợ, hai người trước thuộc nòi thi thư. Một là nữ sĩ Mai Trinh Đỗ Thị, con gái của nhà văn chuyên viết truyện đường rừng Hoàng Ly - người mà mới gặp lần đầu ông đã sửng sốt vì thấy nàng giống người Ngày xưa Hoàng Thị “như hai giọt nước”. Nữ sĩ đã không ít lần tư lự: “Anh theo chiếc lá vô thường/ Một hôm rụng xuống nỗi buồn tử sinh”. Người vợ thứ hai là bà Tuệ Mai, con gái của nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, từng sum họp vào cái thời hai người chìm ngập trong vùng sinh quyển của thơ ca ở “động hoa vàng”... Sau năm 1975, Phạm Thiên Thư gần như quy ẩn. Nhưng do mưu sinh, ông đã từng mở quán cắt tóc ở Lăng Cha Cả (1976 - 1981), rồi đến mở quán tạp hóa, rượu thuốc, giải khát ở đường Lý Chính Thắng (1981 - 1983), trước khi ông sống với người vợ thứ ba và mở quán cà phê Hoa Vàng ở đường Hồng Lĩnh, cư xá Bắc Hải đến nay.

Bên cạnh đó, năm 1983, ông nghiên cứu, sáng lập và truyền bá môn dưỡng sinh mang tính chất hành thiền Phathata (Pháp-Thân-Tâm). Nghĩa là qua bao nhiêu thăng trầm của đời sống và thời cuộc, đến gần cuối đời, ông vẫn giữ khí chất của một thiền sư, trong khát vọng của một triết luận có tính chất nội cảm, lấy tinh chất của đời và đạo làm cứu cánh cho nghệ thuật, muốn “hòa mình giữa vô thức và vô tướng. Đời tôi là vô tướng để cuối cùng đi đến vô thức. Thiền là một cầu nối tư tưởng của tôi mà thôi. Đi tu, bỏ đạo rồi làm thơ, trong chuỗi những tiếp biến này, tôi muốn dung hòa giữa đạo với đời, cả hai thực chất chỉ là một. Tôi đã áp dụng một dạng thức hành thiền mới, bởi sau lớp vỏ uyên áo của triết luận Phật giáo là một thứ ngôn ngữ văn hóa gắn liền với cuộc sống, nó rất đời chứ không cao siêu, xa vời như quán tính suy nghĩ của mọi người. Phật giáo khi nhập vào phẩm tính Việt Nam đã trở thành một giá trị văn hóa, không còn đơn thuần là một tôn giáo” [10, tr.15]. Ý nghĩa văn hóa thực tiễn trong nội dung mỹ cảm và giá trị nghệ thuật vượt trội của thơ Phạm Thiên Thư luôn bềnh bồng, hòa quyện giữa cõi đời và đạo, như một bản thể không thể chia cắt, chính là ở đó. Thi nhân vẫn giữ được sự tỉnh thức trong thiên lương của người nghệ sĩ, cũng chính là ở đó.

P.P.P
(TCSH448/06-2026)

 

---------------------------
[1] Dẫn theo Tuy Hòa (2018) “Thi sĩ Phạm Thiên Thư - thuở ấy tương tư anh theo Ngọ về”, https://cand.vn.
[2] Dẫn theo Hoàng Nguyên Vũ (2006) “Cõi lạ Phạm Thiên Thư”, https://wikipedia.org.
[3, 6, 8, 10] Phạm Thiên Thư (2021), “Cái chi còn lại họa còn văn chương”, trả lời phỏng vấn Bảo Trung, báo Văn nghệ, số 44, ngày 30/10/2021.     
[4] Dẫn theo Ly Lê (2018), “Phạm Thiên Thư - tu sĩ lãng mạn”, https://poem.tkaraoke.com.
[5] “Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư”, Tuoitre online, ngày 5/12/2016, https://tuoitre.vn.
[7] “Nhà thơ Phạm Thiên Thư nói về Phạm Duy: “Trôi theo” dòng đời lặng lẽ”, Thanhnien Online, ngày 30/1/2013, https://thanhnien.vn/
[9] Dẫn theo Nguyễn Văn Dân (2006), Phương pháp luận nghiên cứu văn học, Nxb. Khoa học xã hội.

 

 

Các bài đã đăng