Bút ký dự thi 2026
An Thuận, khi mùa xuân về
11:13 | 27/05/2026

THẢO GIANG
     
Mùa cốm Tết

Có ngôi làng nho nhỏ ven sông
Khi xuân đến thơm nồng mùi cốm Tết

An Thuận, khi mùa xuân về
Cổng làng An Thuận - Ảnh: tư liệu

An Thuận, làng tôi, nằm cách trung tâm thành phố Huế không đầy mười cây số, ngôi làng thơ mộng hiền hòa, được dòng sông Bồ ấp ôm ru vỗ, tắm mát nước phù sa mỡ màu nên hai mùa ruộng lúa tốt tươi. Dân làng tôi làm cốm quanh năm nhưng rộn ràng nhất là mùa cốm Tết.

Trước đây, nhà tôi vốn làm nghề cốm gia truyền. Tuổi thơ chúng tôi đã đi qua những mùa cốm Tết. Mùa cốm bắt đầu từ cuối tháng mười một âm lịch. Mùa đông Huế rét cắt da cắt thịt, nhưng mùa cốm Tết ấm áp vô cùng. Quanh bếp lửa bập bùng thơm mùi rơm rạ, cha trảo nếp cái hoa vàng cho giòn thơm; mạ sên đường mạch nha nghe phưng phức; chúng tôi quây quần bên mâm đậu phụng rang vừa bóc vỏ vừa lắng nghe nội tôi ôn chuyện xưa tích cũ. Nội kể rằng, trước đây, có một cô gái Bắc Ninh xinh đẹp khăn gói theo chồng lập nghiệp ở mảnh đất bãi bồi ven hạ lưu sông Bồ. Ngày mùa, bà theo chồng ra đồng cấy gặt. Tranh thủ lúc nông nhàn, để chắt chiu tiền mua giấy mực cho con, bà mang nghề cốm gia truyền ra làm. Những bánh cốm lúc đầu chỉ bán quanh thôn xóm. Dần dà bà gánh hàng ra kinh đô. Quan viên, tiểu thương, những nhà giàu có khắp kinh thành đều khen cốm ngon. Bánh cốm được tiến vua, trở thành một món bánh dùng kèm khi thưởng thức trà sen trong cung nội. Từ đó nghề làm cốm ở An Thuận ra đời. Đến nội tôi là đời thứ mười ba. Mạ tôi người làng La Vân Thượng, quanh năm quen với việc trồng rau gối vụ, được nội truyền nghề, đã biết làm ra những phong bánh cốm đậm vị quê hương.

Chúng tôi mỗi năm mỗi lớn lên, lưng mạ mỗi năm còng thêm theo từng gánh cốm. Từ chợ Hương Cần gánh qua Đông Ba, xuôi về Vỹ Dạ, ngược dốc Nam Giao, vòng lên Thiên Mụ... Gánh cốm vơi dần để mâm cỗ cúng Tất niên đầy ắp món ngon. Biết bao lần cốm lên khuôn để cái Tết nhà thêm tươm tất, để trẻ con chúng tôi xúng xính trong bộ quần áo mới xun xoe với bạn bè. Phải nói thuở nhỏ, với chúng tôi, cốm chỉ là một thức quà quê của người lớn. Ngày ấy, mỗi lần cốm lên khuôn, thỉnh thoảng nội dúi vào tay tôi những miếng cốm dẹp vừa làm xong, còn vương chút ấm nóng, tôi chỉ cắn một miếng lấy lệ, vì trẻ con chúng tôi còn có bao nhiêu là quà bánh ngoài kia gọi mời. Một thức quà quê tuổi thơ tôi hờ hững, phải hơn nửa đời người mới cảm nhận cái hậu vị ngọt ngào của từng hạt cốm giòn thơm, cái vị béo bùi của mè và đậu phụng, vị cay the nồng ấm của gừng. Phải khi lớn lên, xa quê, trên bước đường mưu sinh lập nghiệp, cái mùi cốm quê hương mới được đánh thức trong hoài niệm, nhớ thương:

Ơi gánh cốm quê hương,
Ơi lời rao của mẹ,
Con nghe từ tấm bé
Nhưng vọng suốt cuộc đời.

Tuổi thơ chúng tôi lớn lên trong an vui là những tháng năm mạ tôi tảo tần, vất vả gánh gồng. Biết ơn những gánh cốm ruổi rong từ làng quê qua phố chợ. Thương lắm, nhớ lắm, tiếng rao ngân dài trong đường cùng, ngõ hẻm thưa thớt người lại qua. Tiếng rao ấy giờ đây không còn nữa, mạ tôi đã theo nội về với tổ tiên. Nghề cốm nhà tôi đành phải thất truyền, vì anh em chúng tôi vào Nam lập nghiệp. Mỗi lần có dịp về thăm làng, chúng tôi đều mua bánh cốm về làm quà cho bè bạn, ai cũng nói cốm làng tôi hương vị khác cốm dẹp Nam Bộ. Có lẽ sự khác biệt bắt nguồn từ khâu chọn và chế biến nguyên liệu. Trong khi bà con Khmer Vĩnh Long, Sóc Trăng chọn loại nếp rặt vừa chín tới để chế biến cốm dẹp Ba So, thì người làng tôi tuyển chọn những hạt nếp cái hoa vàng để làm cốm. Làng tôi nằm ven sông Bồ, chính những hạt phù sa màu mỡ và dòng nước mát lành của con sông quê đã tạo nên hương vị đặc trưng cho hương gạo nếp cái hoa vàng. Cái tên “nếp cái hoa vàng” bắt nguồn từ những bông lúa khi trổ đòng đòng, phấn hoa lúa có màu vàng trắng. Khi lúa nếp cái hoa vàng trổ đòng đòng, cả cánh đồng hoa lúa phất phơ, ngan ngát mùi hương, ngọt thơm như sữa mẹ. Tôi vẫn nhớ kỷ niệm cùng bạn bè thả diều trên cánh đồng lộng gió, căng lồng ngực hít thở cái mùi hương đồng cỏ nội quyến rũ khó quên. Nhớ tuổi thơ vụng dại lén ngắt những bông lúa nếp non để thưởng thức những giọt sữa thơm tho, tinh khiết. Nhớ những buổi theo cha ra đồng gặt lúa nếp cái hoa vàng, những bó lúa sai oằn, nặng trĩu với những hạt nếp tròn mẩy. Những hạt lúa nếp này đem luộc chín tới để nguội, vớt ra rửa sạch, rồi đem trạo trong chiếc chảo gang to, bên dưới bếp lửa hừng hực cháy. Khi hạt nếp đã khô lại, dẻo quánh, chúng được đổ vào những chiếc cối đá to. Chày nện đều tay, từng nhịp, từng nhịp. Giã đến khi hạt nếp dẹp ra thành cốm. Cốm lại được sàng lọc cho hết vỏ trấu, rồi lại rang thêm một lần nữa cho nở giòn. Trước đây, làng tôi làm hai loại cốm: cốm nếp và cốm dẹp. Cốm nếp là loại cốm lấy lúa nếp khô đã rang giòn trộn với nước đường mía thắng kéo chỉ, vo lại từng viên tròn cỡ quả cam. Tuy đơn giản là vậy nhưng nếu tay nghề non, hạt cốm cứng, nở không đều, đường bở, hạt cốm không dính vào nhau thành một khối. Cốm dẹp làm công phu và cầu kỳ hơn. Và đây là loại cốm còn tồn tại ở làng tôi. Sau khi sên đường, trộn hỗn hợp đường, cốm, đậu phụng, mè rồi cho lên khuôn. Quy trình phức tạp là thế nhưng nó đã ăn sâu vào máu thịt người làm cốm làng tôi như một thứ gen di truyền, không cần ghi chép công thức, không cần cân đo đong đếm. Bằng đôi mắt tinh tường chuyên nghiệp, chỉ cần nhìn khói bốc lên chảo là biết đủ độ nóng hay chưa, chỉ cần nhìn tăm sủi bọt là biết đường sên đã tới. Nghề cốm An Thuận, cha truyền con nối nên cốm làm ra bằng tấm lòng thảo thơm của con cháu với tổ tiên.

Từ khi gia đình tôi chuyển về Huế sinh sống, Tết nào về chạp mộ tổ tiên, chúng tôi đều ghé nhà anh Duy Thành ở xóm 8 mua mấy phong cốm về thắp hương cho ông bà. Anh Thành là một trong những nếp nhà còn giữ lửa với nghề cốm gia truyền. Căn nhà ngói ba gian của anh khuất sau hàng chè tàu xanh mượt. Chúng tôi vào sân nhà gặp lúc anh cùng vợ đang cho cốm lên khuôn. Trước hiên nhà đặt một chiếc bàn, phía trên đã sẵn khuôn gỗ. Vợ anh trộn cốm dẹp, nước đường, đậu phụng, mè rang trong một chiếc chảo to, rồi từ từ đổ hỗn hợp ấy lên khuôn. Anh Thành dùng ống lăn nén chặt rồi dùng dao bén khéo léo cắt chia đều khuôn thành những bánh cốm đều tắp. Xong phần việc của mình, vợ anh Thành vui vẻ mời chúng tôi vào nhà. Gian nhà giữa chất đầy những phong bánh cốm có bao bì rất đẹp mắt, nổi bật trên nhãn hiệu là hình ảnh chiếc cổng làng An Thuận với ba vòm mái ngói rêu phong. Vợ anh cho biết: mùa cốm Tết năm nay khách đặt hàng rất đông, gửi vào Nam đến tận Cà Mau, Đồng Tháp; ra Bắc đến Hà Nội, Lạng Sơn. Bếp nhà anh đỏ lửa trong suốt tháng chạp. Vợ chồng, con cái tất bật mỗi người mỗi việc: rang mè, bóc đậu, giã nếp, sên đường... Việc không ngơi tay, nhưng ai nấy đều vui vì cốm Tết được mùa. Nghề làm cốm vốn thủ công, tuy không giàu có nhưng chắt chiu cũng đủ để nuôi con ăn học, sửa sang nhà cửa.

Trước đây, để giữ cho cốm giòn, thơm ngon, mấy o, mấy mệ trong làng thường đặt cốm vào hai lu nhỏ bằng đất nung, bên trong lót bằng lá chuối khô (sau này thay bằng giấy báo), rồi gánh cốm rong ruổi trên đường phố với tiếng rao ngân dài: “Cốm... đây...”. Gánh cốm hai lu đã lùi vào quá khứ. Hiện nay cốm An Thuận đã có thương hiệu. Tuy nhiên, hầu hết người làm nghề cốm làng An Thuận như anh Thành vẫn luôn trăn trở: “Thị trường Tết hiện nay phong phú với đủ loại bánh mứt, nhất là kẹo bánh nước ngoài. Sự cạnh tranh giá cả. Nỗi vất vả của lao động thủ công. Tất cả có thể làm nghề cốm làng An Thuận dần mai một”. Tôi động viên anh và cũng để nhắc nhở chính mình rằng, không đâu bằng nơi chôn nhau cắt rốn, không món quà Tết nào trân quý bằng bánh cốm quê hương. Tết đến, trên bàn thờ gia tiên, trên mâm cúng tất niên, đón giao thừa, trong khay bánh tiếp khách vẫn hiện diện những phong bánh cốm. Vui xuân sum họp. Nhấp ngụm trà sen Huế. Thưởng thức bánh cốm ngọt bùi. Cùng nhau ôn lại những mùa cốm Tết đã đi qua. Bao nỗi nhớ thương. Bao niềm hoài vọng. Mai này, thế hệ cháu con làng An Thuận sẽ xây dựng những xưởng cốm khang trang với cối giã, máy ép, lò rang bằng điện. Mai này, không chờ thu tới, đông sang, mà mỗi ngày trong năm đều là mùa cốm Tết rộn ràng.

Ai có về An Thuận ngày Tết, hãy cùng chúng tôi mua vài phong bánh cốm. Hãy cùng gìn giữ mùi hương thanh khiết: hương thơm dịu ngọt của nếp cái hoa vàng thắm phù sa màu mỡ sông Bồ, vị cay the nồng ấm của gừng, vị bùi béo của mè và đậu phụng. Hơn tất cả là tấm lòng thơm thảo của người làm cốm quê tôi.

Lễ hội đầu năm

Ở quê tôi, tháng giêng là mùa của lễ hội, của những phong tục đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của dân làng. Lễ không chỉ là nghi thức, hội không chỉ là những ngày vui mà còn là sợi dây nối liền quá khứ với hiện tại, để con cháu đời sau không quên cội nguồn, để tạ ơn đất trời tạo hóa đã ban tặng nên ngôi làng An Thuận thơ mộng, trù phú, hiền hòa nằm ven hạ lưu sông Bồ.

Đúng thời khắc giao thừa, Ban điều hành thôn lập một bàn thờ trước cổng làng. Người đứng ra vái lạy không phải là trưởng thôn mà do dân làng lựa chọn. Bác lạy phải hợp tuổi, hợp mạng, đủ đức, đủ nhân, gia đình suốt năm bình an, thuận hòa, không gặp chuyện bất hạnh, tang tóc. Việc lựa chọn người lạy mang ý nghĩa thiêng liêng, thể hiện sự tôn kính của con cháu cõi dương gian với Tổ tiên đã khuất. Trong khói hương trầm nghi ngút, bác lạy thay mặt dân làng mời các Ngài khai canh, các bậc tiền nhân về ăn Tết, vui xuân cùng con cháu. Và cũng chính từ giây phút ấy, mùa lễ hội quê tôi chính thức bắt đầu.

Năm nay, Tết Bính Ngọ 2026, lễ Tế Xuân - Tảo Mộ của làng tôi được tổ chức long trọng hơn so với mọi năm vì đây cũng là thời điểm làng An Thuận cắt băng khánh thành ngôi đình mới. Sáng mùng chín Tết, khi sương mù còn trùm chiếc khăn voan trên những cụm tre già, phả những làn khói lãng đãng trên mặt sông, người trong làng từ khắp các ngõ mang theo cuốc, chổi, hương hoa... cùng đến dọn dẹp làm quang đãng mộ phần Ngài khai canh và các bậc tiền nhân ở đầu thôn. Công việc chẳng mấy chốc đã xong. Khi nắng hồng ửng lên trong làn gió sớm, chúng tôi theo chân mọi người náo nức đi trên con đường cái quan, hai bên đường phấp phới cờ ngũ sắc, con đường dẫn lối ra ngôi đình làng An Thuận.

Dựng lên trên nền đất cũ, ngôi đình mới vẫn giữ nét kiến trúc cổ có giá trị cao về văn hóa, thẩm mỹ. Từ xa đã thấy sắc vàng ánh của hình nổi lưỡng long triều nhật trên nóc tiền đường. Nóc nhà hậu tẩm vươn cao, giữa nóc là một quả cầu tròn, bao bên ngoài là ngọn lửa, hai bên có cặp rồng chầu. Mái đình lợp ngói âm dương màu nâu đỏ, cong vút ở bốn góc như cánh phượng. Lối vào đình là Tam quan với bốn trụ cột đều khắc câu đối sơn son thếp vàng trên nền xanh lơ, lối đi giữa rộng hơn hai bên. Khoảng sân đình rộng, lát gạch. Bình phong ở khoảng giữa, phía trước sân. Trước tiền đường là cặp rồng, đầu oai vệ, râu dài, mắt trợn tròn, miệng ngậm ngọc nằm phục trước thềm như canh giữ ngôi đình. Cột đình đúc bằng xi măng nhưng sơn bóng lên trông như cột gỗ lim nâu, trên mỗi cột chạm nổi hình rồng uốn lượn, uyển chuyển giữa những đám mây, vảy rồng chạm sắc sảo, óng ánh như được dát vàng. Mặt tiền chính của ngôi đình hướng ra sông Bồ đón gió xuân mơn man trên mặt nước biếc, la đà trên những biền ngò xanh thơm ngát, phơi phới trên những lá cờ ngũ sắc cắm dọc hai bên đường vào đình. Con đường tấp nập người đến dự lễ, từ các bậc cao niên đến trai trẻ, từ người ở làng đến bà con sinh sống nơi xa: Thành phố Hồ Chí Minh, Hương Bình, Đắk Lắk... khuôn mặt ai cũng rạng ngời niềm tự hào, phấn khởi. Chúng tôi vào đình vừa đúng lúc lễ khánh thành đình bắt đầu. Trong lời phát biểu khai mạc của ông Nguyễn Duy Danh, Trưởng Ban Điều hành làng đã nêu bật quá trình hình thành và xây dựng đình. Đình làng An Thuận đã được xây dựng vào đầu thế kỷ XVIII, là nơi thờ tự các bậc tiền nhân đã có công khai khẩn và lập làng. Sau ngày quê hương giải phóng, mặc dù kinh tế còn nhiều khó khăn nhưng dân làng đã chung tay đóng góp xây dựng tiền đường. Tuy nhiên, do thời gian quá lâu, đến năm 2023 đình làng xuống cấp nghiêm trọng, hậu tẩm bị dột nát nhiều. Ban điều hành làng đã họp bàn vận động bà con trong thôn đóng góp dần và gửi thư ngỏ đến con em An Thuận đang sinh sống ở xa cúng dường, chung tay xây lại ngôi đình để có nơi trang nghiêm thờ cúng tổ tiên. Nhờ các bậc tiền nhân phù hộ, tạo cơ duyên đến với làng, nên tháng 4 năm 2025 gia đình anh Hồ Đắc Huỳnh (con rể của làng) đã phát tâm xây dựng lại đình làng. Phần bà con đóng góp, cúng dường mua sắm trang hoàng bên trong. Nhờ sự nhiệt tình của đội thợ xây dựng, chỉ hơn tám tháng công trình đã hoàn thành và làm lễ An vị. Ngôi đình làng mới khang trang, vững chãi là kết tinh của tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm đối với di sản của cha ông để lại. Đình làng không chỉ là nơi thờ tự các bậc Thành hoàng, khai canh lập ấp mà còn là biểu tượng linh thiêng, trung tâm văn hóa tinh thần của cả cộng đồng. Vì vậy công trình xây dựng đình làng hoàn thành là niềm tự hào lớn của nhân dân làng An Thuận, thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”. Sau khi cắt băng khánh thành đình làng, tại đây cũng đã tiến hành lễ Túc Yết với nghi thức trang nghiêm, thành kính.

Từ xa xưa, lễ Túc Yết (hay Tế Yết) vốn là nghi thức tế lễ trong cung đình, được Đức tả quân Lê Văn Duyệt phổ biến trong dân gian. Khi nắm giữ chức Tổng trấn Gia Định thành, ông đã đưa lễ Túc Yết vào lễ hội Kỳ Yên trong các đình thần Nam Bộ. Sau đó lễ Túc Yết được phổ biến trong khắp cả nước. Trước đây, lễ này được tiến hành vào buổi chiều hoặc về đêm. Nhưng hiện nay, đình An Thuận cũng như nhiều ngôi đình khác ở Huế chọn tổ chức lễ Túc Yết vào buổi sáng, thời điểm thích hợp cho việc tập trung dân làng và quan khách về dự lễ.

Trước giờ hành lễ, các thành viên của Ban Tế lễ: lệnh nội, lệnh ngoại, bác lạy, các cụ cao niên với áo thụng xanh khăn đóng chỉnh tề, đứng sắp thành hai hàng, cùng với ban nhạc lễ trong tư thế sẵn sàng. Lễ đường nghi ngút khói hương trầm, trên các án thờ hương hoa huệ tỏa ngát, ba hồi trống rồi ba hồi chiêng vang lên, lễ dâng hương, chuốc tửu, tiệm trà được tiến hành trong không khí linh thiêng. Chắc hẳn các vị tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ có công xây dựng và bảo vệ đình làng, nương theo khói hương đã về dự lễ Tế Xuân Bính Ngọ cùng con cháu. Sau cùng văn chúc được kính cẩn mang lên trước bàn thờ Ngài khai canh. Trong tiếng nhạc lễ phụ họa, văn tế được đọc lên, thành kính gửi lời tri ân của dân làng đối với các bậc tiền nhân. Cầu mong các Ngài phù hộ cho làng một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, dân làng có cuộc sống sung túc, an vui, hạnh phúc. Con cháu trong làng lần lượt thắp nén hương, dâng lên bái vọng các tiên linh, cùng nhau tưởng nhớ, tri ân công đức các bậc tiền nhân. Lễ Tế Xuân là dịp để thế hệ trẻ làng An Thuận học hỏi, tìm hiểu văn hóa truyền thống đồng thời cũng tạo không khí vui tươi trong những ngày đầu năm mới, chuẩn bị bước vào lễ hội đua ghe trên sông Bồ vào ngay ngày hôm sau.

Ngày mùng mười Tết, trời vừa mờ sáng, đường kiệt các xóm của thôn An Thuận rộn rịp bước chân, tiếng người gọi nhau í ới, chúng tôi hòa vào dòng người cùng ra bến trước Miếu Âm Hồn. Bên kia sông Bồ, dân làng La Vân cũng băng biền lũ lượt kéo ra. Từ chợ Hương Cần, làng giáp ranh Giáp Kiền, Giáp Chùa cổ động viên cũng kéo đến. Người đứng trên bờ chen chúc, người ngồi trên ghe chật ních trong khoang, mắt háo hức nhìn về tám chiếc ghe chèo được quét dầu bóng loáng, trang trí đẹp mắt đang lượn lờ trên sông nước. Nước sông Bồ xanh trong biêng biếc, từng vệt sóng rào rạt vỗ vào bờ kè, mấy cụm tre già rì rào cùng hòa khúc nhạc đón chào ngày hội.

Theo tục lệ xưa truyền lại, cứ ba năm một lần làng tôi tổ chức đua ghe trải truyền thống, duy trì nét văn hóa dân gian độc đáo của làng quê. Nghe các bậc cao niên trong làng kể, từ thuở mới lập làng đã có những cuộc đua ghe trên sông Bồ, mục đích tuyển chọn những binh phu tinh nhuệ, sẵn sàng xung trận khi quê hương cần. Hội đua ghe không chỉ dành cho những chàng trai khỏe mạnh để rèn luyện sức dẻo dai, mà còn thu hút cả những cô thôn nữ một nắng hai sương trên đồng ruộng cùng tham gia. Hiện nay, bên bờ sông Bồ ở xóm 3 còn di tích Am Bà, thờ vị thủy thần nổi tiếng là tay chèo giỏi của làng. Năm nay, trong tiết xuân ấm áp, trong niềm vui đón mừng ngôi đình làng mới vừa khánh thành, trong niềm phấn khởi Làng văn hóa An Thuận được công nhận nông thôn mới kiểu mẫu, hội đua ghe truyền thống An Thuận tổ chức cho những tay chèo là nam nữ trong thôn và con cháu nội của làng sinh sống ở nơi xa cùng về tham dự. Chưa vào cuộc đua mà không khí cổ vũ đã sôi động với tiếng trống, tiếng kèn, thậm chí có cả tiếng pháo điện xẹt lửa lên không trung. Băng rôn, cờ Tổ quốc, giương cao trên những chiếc nón lá, những chiếc dù hoa nhiều tầng lô nhô cao thấp dọc hai bên bến Miếu.

Để tham dự cuộc đua này, từ nhiều tháng trước, các xóm đã tập trung sửa sang lại đứa con tinh thần của mình. Có xóm làm lại hẳn chiếc ghe đua mới như xóm 3 và xóm 8. Mỗi chiếc ghe được hạ thủy là sự kết tinh từ đôi tay khéo léo tỉ mẩn của người thợ, là công sức miệt mài, là tâm huyết của bà con trong xóm. Người thợ cẩn thận lựa chọn từng khúc tre già, từng tấm gỗ chắc, chăm chút từng đường đan, mối buộc. Tre được chọn làm ghe phải là tre đực già, thân dày, ruột đặc, dẻo dai, thân thẳng không cong vênh. Những thân tre thẳng đuột ấy được tỉ mẩn chẻ ra, vót nhẵn, trở thành những thanh hen mỏng chắc. Những thanh hen đan bện chặt bằng sự dung hòa như cách người dân quê tôi gắn bó với nhau bằng sự sẻ chia, thấu hiểu. Từng tấm bện, cây nêm đều được nắn nót tỉ mỉ, dù chi tiết nhỏ bé nhưng nó là một phần không thể thiếu, cùng gánh vác trách nhiệm giúp chiếc ghe lướt trên mặt nước. Chiếc ghe không chỉ là gỗ, là tre vô tri nữa mà còn chứa đựng đằng sau cả một triết lý: như thân ghe cứng cáp nhờ những mối buộc chắc chắn, cộng đồng quê tôi cũng mạnh mẽ nhờ tinh thần tương thân tương ái, đùm bọc, sẻ chia: con cá, mớ rau khi lũ về; cặp bánh chưng hay đòn bánh tét khi Tết đến; hỏi han, động viên, giúp đỡ nhau khi trái gió trở trời.

Đông vui nhất là những ngày giáp Tết, không khí đua ghe đã hừng hực khắp các bến sông. Không chỉ thanh niên trai tráng mà cả các cụ cao niên đến các o, các mệ đều tập trung ra bến cổ vũ cho đứa con tinh thần của xóm tập dượt trước ngày xung trận. Phấn khởi nhất có lẽ là bọn trẻ con, chúng không chỉ đứng xem mà có lúc phấn khích nhảy ùm xuống nước. Thế là ghe đua với ghe, người đua với người, sông Bồ tưng bừng vào ngày hội sớm. Với người dân quê tôi, dù không sống bằng nghề sông nước nhưng hội đua ghe đã gắn bó máu thịt, không chỉ là một cuộc đua thể lực, khéo léo, bền bỉ mà hơn hết đó là sự gắn kết tình làng nghĩa xóm. Mỗi chiếc ghe chèo lướt sóng trên sông không chỉ mang theo sức mạnh của những tay chèo mà còn chuyên chở niềm kiêu hãnh của chòm xóm, tình yêu tha thiết với con sông Bồ phù sa mỡ màu vun đắp bãi biền, ruộng lúa tốt tươi.

Khi tiếng loa từ bến Miếu vang lên, những chiếc ghe nhanh chóng về nơi tập kết. Các tay chèo ngồi trên ghe trước Bàn quan - tức bãi xuất phát. Tám cây chèo lớn của tám đội được gác trên giá đặt trước bàn Ban Tổ chức cuộc đua. Tám ông chèo đội nón hiệu, dàn hàng ngang đứng trước giàn giá, họ đại diện cho hơn hai trăm tay chèo của tám xóm cùng về dự hội, sẵn sàng chờ nghe hiệu lệnh. Khi Trưởng ban tổ chức dõng dạc tuyên bố: “Hội đua ghe truyền thống thôn An Thuận năm 2026 bắt đầu”. Tùng… tùng... tùng... Hồi trống xuất binh vang lên giục giã, ông hiệu lập tức cầm chèo chạy nhanh xuống ghe xóm mình, neo chèo thật chắc. Rồi tất cả mái chèo đồng loạt khua trên sóng nước, những chiếc ghe lướt sóng, phăng lên. Khi mái chèo cất nhịp là lúc con người hòa cùng dòng sông, bao nhiêu nhọc nhằn năm cũ cũng theo mái chèo mà tan biến đi như những vệt sóng lùi lại phía sau ghe.

Ấn tượng nhất là vòng đua cuối. Sau những vòng đua bung sức, tưởng đã vắt kiệt sức lực. Nhưng nhịp chèo vẫn bền bỉ, kiên trì. Tiếng hô: “Dồn là dồn” rắn rỏi vẫn vang lên trên sóng nước. Dường như với những tay chèo, hướng đích đến không chỉ vì chiếc cờ phá và được vinh danh, mà lớn lao hơn, họ muốn giữ những nhịp chèo rực lửa, muốn cháy hết mình ở vòng đua cuối cùng đồng đội. Chủ nhân của lá cờ phá đã lộ diện. Khi chiếc ghe áo vàng bứt phá, đã về đến vè Rốn đầu tiên. Trống đánh liên hồi. Pháo điện xẹt lửa lên không trung. Tiếng hò reo ngút trời. Khi ghe xóm 6 về đến Bàn quan sớm nhất, vinh dự nhận lá cờ phá dài nhất giải.

Hội vui khép lại. Không khí râm ran theo bước chân về khắp ngõ xóm trong làng. Ở buổi tiệc liên hoan, dù có giải hay không, các xóm vẫn giao lưu trong thân ái. Hẹn cùng nhau hội đua ghe lần tới cầm chắc tay chèo, cùng đưa ghe hòa mình trên sóng nước quê hương. Ngàn năm vẫn còn đó những con sóng ru vỗ trên dòng sông Bồ. Và sóng cũng đang rào rạt vỗ vào lòng người, những con sóng sẽ nâng bước chân người vượt lên từng con sóng của cuộc đời.

T.G
(TCSH447/05-2026)

 

 

Các bài đã đăng
Ngọn lửa Pa Hy (20/04/2026)