NGUYỄN NGỌC LỢI
Tên thật của chú là gì tôi không biết, chỉ biết mọi người thường gọi chú là chú Ba bụng. Còn tôi gọi chú là chú Ba Huế vì chú nói giọng Huế. Chú Ba Huế phụ trách việc phân phối thịt cho các đội của nông trường.
Năm 1954, chú Ba Huế đi tập kết. Các đơn vị bộ đội miền Nam tập kết được chuyển sang làm kinh tế, thành lập các nông trường, được gọi là nông trường quân đội. Vùng Phủ Quỳ có mấy nông trường quân đội như Nông trường Đông Hiếu, Nông trường Tây Hiếu, Nông trường Cờ Đỏ, Nông trường 1/5. Các cơ quan trung đoàn trở thành các phòng ban nghiệp vụ. Và trung đoàn bộ được gọi là Nông trường bộ. Nông trường bộ được xây dựng quy củ, có hội trường, có phòng hành chính, phòng kế toán - tài vụ, phòng kế hoạch… Nông trường của chú đóng ở vị trí trung tâm xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Đàn cũ. Khoảng đất trống dưới chân một ngọn núi tốt um cây rừng cạnh đường 15, nơi có đường từ làng Lầm bên kia mấy vạt ruộng đi lên, và cách một đoạn lại có đường lên xã Nghĩa Yên phía trên, trở thành thị trấn nông trường. Thị trấn nông trường có cửa hàng cung tiêu bán mắm muối, dầu thắp, dụng cụ lao động và mấy thứ lặt vặt cùng cái chợ nhỏ. Cụm nhà tường xây mái ngói quét vôi trắng cạnh đường 15 và mấy lều chợ sớm chiều nhộn nhịp, cá mắm biển miền xuôi mang lên, các bà các chị người Thái, người Thổ mang măng, rau và những thứ kiếm được trong rừng ra trao đổi, bán mua. Những ngày chủ nhật, các chú tập kết đi chợ, tiếng Thái, tiếng Thổ và xen lẫn giọng Quảng, giọng Huế, lao xao nhộn nhịp. Bọn trẻ chúng tôi, mỗi lần đi chợ được đến thị trấn nông trường vui như được đi chơi phố. Thị trấn nông trường như một nét son giữa miền Tây Bắc Nghệ An vốn đìu hiu quạnh vắng.
Nông trường của chú Ba Huế vinh dự lấy ngày sinh của Bác Hồ làm tên gọi, là Nông trường 19/5, đóng gần làng Toong của xã Nghĩa Lâm, huyện Nghĩa Đàn cũ. Cũng như nhiều nông trường khác, Nông trường 19/5 có nhiệm vụ trồng cây công nghiệp như cà phê, cao su, ngoài ra còn trồng lúa, lạc, khoai sắn. Để phục vụ đời sống công nhân, nông trường có thêm đội chăn nuôi bò và trại lợn. Để có đất sản xuất, ngoài việc phục hóa những nương rẫy cũ, nông trường còn phát rừng mở rộng thêm diện tích. Phủ Quỳ là vùng đất đỏ bazan rất màu mỡ. Sau gần 10 năm hòa bình, các lô cà phê sum suê trĩu quả, các lô cao su rợp bóng đã cho mủ mấy năm. Cà phê và cao su thu hoạch xong được mang về đội chế biến sơ và được mang đi xuất khẩu để đổi lấy máy móc hoặc lấy ngoại tệ. Miền Bắc đang phơi phới tươi vui, đời sống công nhân đang dần ổn định, nguôi ngoai phần nào nỗi đau đáu mong ngày trở lại quê hương của các chú miền Nam tập kết thì giặc Mỹ ném bom miền Bắc.
Năm 1965, sau khi trái bom đầu tiên của Mỹ ném xuống miền Bắc mấy tháng, gia đình tôi cùng mấy gia đình khác sơ tán lên xã Nghĩa Lâm, Nghĩa Đàn. Làng Toong, một làng người Thổ của xã Nghĩa Lâm, nơi mấy gia đình miền xuôi chúng tôi trú ngụ chỉ cách trại lợn của chú Ba Huế một quãng đồng nhỏ và mấy lô đất trồng ngô, trồng lạc. Dạo đó máy bay Mỹ thường bay dọc đường chiến lược 15 săn lùng ô tô bộ đội chở quân chở súng đạn vào Nam. Nông trường bộ cũng bị ném bom nên ngày ngày đi học, từ làng, mấy đứa gồm tôi, cái Kính em tôi và thằng Sĩ theo gia đình anh chị đi sơ tán men theo mấy lô đất qua trại lợn, vượt đường 15, đi qua khu rừng mà lên trường. Trường phổ thông cấp 2 Nghĩa Yên, nơi chúng tôi theo học cách làng Toong 6 cây số. Trường xa, chúng tôi phải đi thật sớm, từ lúc sương còn bao phủ núi rừng. Ngày nào học một buổi, quá trưa nắng gắt chúng tôi mới về tới trại lợn. Nếu không có gì mang theo, đứa nào đứa ấy đói hoa cả mắt. Đoạn đường luồn trong rừng có quả vả, có dâu da nhưng ăn vào chỉ tổ xót ruột. Hôm nào học cả ngày hoặc buổi chiều có lao động, chúng tôi mang theo vài cái bánh sắn hoặc gói cơm, mãi chiều tối mới về tới nhà. Nhiều hôm trưa về, đi qua chỗ trại lợn, bụng đói lả, ghé vào chỗ chú xin nước uống, được chú Ba Huế cho ăn, bữa thì cơm nguội, bữa thì miếng mì rán, có bữa còn được ăn cháo lòng lợn. Lợn sau khi làm lông thì xẻ thịt cân, phân phối về các đội. Bộ lòng làm sạch rồi cho vào nồi nước luộc. Lòng chín cũng được chia, nồi nước xuýt còn lại đôi mẩu thịt, đôi miếng lòng, chỉ cần cho vào bát gạo thành nồi cháo ngon tuyệt. Với mấy đứa chúng tôi, hàng ngày bữa ăn chỉ cơm độn sắn khoai, mắm ruốc thì những bát cháo lòng được chú Ba Huế cho ăn quả là vượt ngoài sự mong ước.
Người ta gọi chú là chú Ba bụng có lẽ vì chú bụng phệ, chiếc quần bà ba nâu trễ xuống một chút, phơi cái bụng tròn nần nẫn. Mà chú thì luôn mặc áo được một lúc lại cởi ra vắt lên một chỗ nào đó, khi thì vách nứa trong nhà, khi thì trên cành cây cạnh nơi có cái bệ xi măng mặt lõm láng bóng. Chú Ba Huế đã có hai người con, trai đầu tên Ngoạn, thứ hai là con gái. Tập kết ra Bắc chú mang theo người con trai đầu, để lại con gái còn nhỏ cho người vợ cũng đã luống tuổi, với hy vọng sau hai năm sẽ quay lại đoàn tụ gia đình. Ra Bắc, Ngoạn được vào học trường học sinh miền Nam ở Hải Phòng, chú cùng đơn vị lên đây lập nông trường. Những lần ghé qua, nhìn chúng tôi chú thường nhắc tới Ngoạn.
Lại nói ba đứa miền xuôi chúng tôi nhập trường miền núi ngày đầu đầy lạ lẫm, buổi học đầu tiên chúng tôi lạc lõng giữa đám bạn mới toàn nói tiếng Thái tiếng Thổ chẳng hiểu gì hết, giờ ra chơi chỉ biết tụm vào nhau. Thế rồi chỉ sang buổi thứ hai, giờ giải lao cái Kính dẫn tới trước mặt tôi và Sĩ một đứa con gái trạc tuổi Kính. Kính nói, em có bạn nì. Mai, con chú Ba trại lợn anh à. Tóc dài, mặt tròn, mắt sáng, ngăm đen, thấp hơn cái Kính em tôi một chút nhưng trong chiếc áo sơ mi màu trứng sáo và quần lụa đen nhánh, cùng đôi dép nhựa tím, Mai giống con gái nhà giàu có. Rõ ràng là Mai được chú Ba Huế thương yêu, cưng chiều. Tôi ư hử gật gật đầu coi như biết rồi. Mai nói, trưa hai anh vô chỗ em chơi để ba em quen nhé. Chúng tôi gật đầu. Trưa đó về, tới ngang trại lợn, Mai bắt chúng tôi vào hết trong nhà để giới thiệu với ba. Nhà chú Ba Huế ba gian mái nứa, vách cũng liếp nứa ẩn dưới tán rừng, được ngăn một gian buồng cho cái Mai, chú nằm trên tấm ván kê gian ngoài, gian giữa có bộ bàn ghế mộc đặt ấm nhôm nước và mấy cái bát. Mãi về sau chúng tôi mới biết Mai là con nuôi của chú chứ lúc đó tôi cứ nghĩ Mai là con đẻ của chú, tuy có thắc mắc, tại sao chú Ba nói giọng Huế, còn Mai lại nói giọng Nghệ?
Chú Ba đang làm gì ngoài đám rẫy có ngô có bầu bí ngoài bìa rừng. Nghe Mai gọi, ông rẽ đám ngô bước vào. Vẫn cởi trần, chú Ba thả cuốc bên hè đi vào nhà, nhìn chúng tôi, chú cười nói, bạn mới hí. Mấy đứa là bạn mới của Mai hí? Chơi với nhau cho vui nghe mấy đứa. Lâu ni Mai nhà chú đi một mình, buồn. Chừ có tụi bây rồi, chú đỡ lo rồi. Nói rồi chú quay sang Mai, con dọn cơm cho bạn ăn cùng đi. Cơm còn nhiều đó. Mai nhanh chóng dọn ra mâm bốn cái bát bốn đôi đũa, một đĩa thịt kho và bát canh rau ngọn bí nấu nước luộc thịt. Nhìn mâm cơm chúng tôi đã tứa cả nước miếng. Ngồi vô đi, Mai giục cái Kính. Rồi Mai nhìn sang tôi và Sĩ: Cả hai anh nữa, ngồi ăn đi. Chẳng còn biết ý tứ gì nữa, Kính ngồi bên kia cùng Mai, tôi và Sĩ bên này. Mai bới cơm đưa tận tay từng đứa. Chúng tôi ăn mỗi đứa được hai bát thì cơm thịt canh hết nhẵn. Đứng coi chúng tôi ăn, chú Ba cười vẻ rất thích thú. Chú nói, biết rứa tau xúc thêm lon gạo nữa. Ăn xong, Mai và Kính hú hí gì một lúc trong buồng. Chào chú Ba, chúng tôi ra về, đi được một lúc, ra tới bìa đám ngô, Kính nói, con Mai sướng thật, toàn quần áo đẹp.
Thế rồi Kính và Mai kết nhau như chị em gái. Có bữa đi học ghé qua trại lợn của chú Ba ngồi đợi, Mai kéo Kính vô buồng, bắt Kính mặc cái áo đẹp của nó. Thế rồi từ bữa đó, hai đứa cứ trao đổi áo cho nhau. Cái Mai cũng rất quý tôi và Sĩ, cứ một anh hai anh. Vậy là tôi và Sĩ được ăn theo tình bạn của hai đứa. Chú Ba coi mấy đứa chúng tôi như con cái. Hẳn rằng vì xa vợ xa con quá lâu nên tình cảm chú dành cho mấy đứa chúng tôi thật nhiều. Căn nhà nứa ba gian núp dưới tán rừng sơ tán của trại lợn những lúc có mấy đứa chúng tôi ngập tràn không khí gia đình. Cái Mai, cái Kính ríu rít dọn mâm bát, tôi và thằng Sĩ dạo quanh xem đàn lợn, ra ngó giàn mướp giàn bầu do chú trồng. Lúc ăn, chú chỉ ngồi nhìn rồi giục chúng tôi ăn. Giọng Huế chú nghe quen thấy sao ấm áp và gần gũi đến thế.
Làng Toong thường có các chú công nhân vào chơi. Các chú hầu hết nói giọng miền Nam, muốn hiểu chúng tôi phải hỏi đi hỏi lại. Riêng giọng Huế của chú Ba thì nghe được ngay. Cứ vài hôm không thấy chúng tôi ghé, chú lại vào làng. Đầu hôm, trời nhập nhoạng tối, hễ thấy bóng người thấp đậm từ xa trong lối ngõ có hai hàng thầu dầu cao lút từ cái giếng nơi bìa đồng đi lên là tôi đã nhận ra chú. Chú vào ngồi nói chuyện với bố cái Kính, nói chuyện với bố tôi. Ba ông ngồi bên ấm chè xanh, giọng Huế, giọng Nghệ xen lẫn. Chú kể cho bố tôi và chú tôi (bố cái Kính) nghe về đứa con trai đầu đang học ở Hải Phòng, chú nói nhiều về vợ và con gái còn để lại ở Huế. Trong câu chuyện của chú, tôi nhận ra niềm đau đáu về vợ con và mong ngày được trở về sum họp. Ra đi, tưởng đâu chỉ xa Huế hai năm, vậy mà… Ngày trở về vẫn còn mịt mù, tít tắp. Mỗi lúc nhắc tới Huế, ánh mắt chú lấp lánh niềm vui. Nhưng chú chỉ vui được một lúc, niềm hoài vọng cố hương không giấu nổi trong vẻ mặt đột ngột đượm buồn. Những lúc như thế, dù còn nhỏ tuổi tôi cũng đã biết thương chú vô cùng. Thương chú cũng chẳng vì luôn được chú quý mến, săn sóc. Tôi thương chú là bởi một điều gì đó trong tình cảm thẳm sâu của chú dành cho chúng tôi. Bố tôi và bố Kính là hai anh em ruột, buổi chập tối, những lúc đã ăn xong hai ông thường ngồi với nhau bên ấm chè xanh đợi chú Ba Huế. Biết anh em tôi được chú Ba thương, hai ông rất vui và cảm động. Và sự đi lại giữa chú Ba với hai nhà chúng tôi trở nên thân thuộc và gần gụi. Chú nói, con Mai tui được làm bạn với mấy cháu của hai anh đây tui thiệt mừng. Chú Ba ra về, bố tôi nói với theo. Thi thoảng vô chơi cho vui chú Ba nhé. Chú Ba gật đầu. Dạ! Tiếng “dạ” của chú mãi đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ như mới nghe hôm qua.
Dạo đó Sĩ và tôi đang cùng lớp 7, cái Kính và cái Mai lớp 6, hai lớp cuối cấp 2. Học sinh lứa chúng tôi mười lăm mười sáu, con trai nói vỡ giọng, chân tay dài ngoằng và còn ngờ nghệch; con gái trổ mã, mọi thứ trở nên mềm mại mượt mà, từ ánh mắt, làn da và mái tóc. Cả tốp bốn đứa kéo nhau đi. Con trai bọn tôi đi nhanh vượt trước, đường rừng mấp mô rễ cây, tảng đá, Kính và Mai tụt lại sau khiến nhiều lúc tôi và Sĩ phải dừng lại chờ. Đoạn đường chúng tôi đi luồn dưới tán rừng già. Chúng tôi cứ nhởn nhơ đi, mặc trên đầu máy bay phản lực Mỹ rú rít. Nhiều hôm tiếng bom dội đến từ đâu đó mạn Thái Hòa, Cát Mộng vẫn không làm chúng tôi lo lắng. Nhiều lúc cái Mai bảo, hai anh cứ đi trước đi, mặc bọn em. Thế là chúng tôi đi trước, hai đứa đi sau rủ rỉ chuyện trò. Con gái luôn có chuyện riêng tư để thì thầm.
Từ lúc làm bạn với Mai, và được chú Ba coi như con, khu rừng với mấy mái lán nứa của trại lợn trở nên thân thuộc với chúng tôi. Mảnh nương mùa nào thức ấy có đủ ngô, lạc, đu đủ, chuối và những khóm bù rợ, giàn bí xanh, mà hễ rỗi lúc nào chú lại cầm cuốc cầm liềm ra lúc đó. Đoạn hào giao thông đất đỏ lở lói. Khu chuồng lợn được quây bằng những bìa gỗ đen nhẻm. Cái bệ hình chữ nhật có lòng máng, bóng nhoáng giữa vạt rừng râm mát. Hết thảy đều mang theo bóng dáng chú Ba Huế của chúng tôi.
Có thêm mấy đứa chúng tôi làm bạn với con gái nuôi khiến chú như vơi bớt nỗi buồn xa Huế, xa con trai. Hễ thấy chúng tôi ghé vào là chú cười, chú nói. Có cái gì ăn chú lại giục Mai mang ra. Nhiều bận ghé vào tôi thấy chú thẫn thờ trông rất thương. Hồi đó chúng tôi làm sao hiểu được nỗi buồn của chú. Hơn mười năm trời đằng đẵng chẳng biết vợ con trong đó thế nào. Hơn mười năm, năm đầu còn vài lá thư, rồi thưa dần và bặt hẳn. Chiến trường miền Nam ngày càng ác liệt. Ngày trở về đoàn tụ gia đình với chú trở nên mịt mù. Hình như bao nhiêu hy vọng của chú đặt hết vào Ngoạn và Mai. Hải Phòng đâu có gần, vả lại đường sá, xe cộ thời bom đạn đâu dễ để chú có thể ra thăm, chỉ có cái Mai ở gần. Anh em đi tập kết, người chưa có gia đình đã kịp lấy vợ, có con. Người nghe tin vợ miền Nam đã theo người khác cũng đã lấy vợ khác. Còn chú? Chú dành hết tình cảm vào Ngoạn, vào cái Mai. Nhiều lần nhìn ba con chú âm thầm vô ra trong mái nứa khiến tôi thấy se lòng.
Máy bay Mỹ hoạt động ngày một nhiều hơn. Thái Hòa, phà Hiếu bị bom liên tục; lèn Cát Mộng ở Nghĩa Liên, nơi nghe nói là kho súng đạn của ta bị bom đánh dữ dội. Nhiều nơi khác trong tỉnh cũng bị Mỹ đánh bom ngày đêm. Chiến trường miền Nam ngày thêm ác liệt. Anh trai tôi và mấy bạn trai làng Toong lên đường nhập ngũ. Năm 1967, hết hè năm đó tốt nghiệp lớp 7, thằng Sĩ theo gia đình về xuôi. Tôi quá tuổi không được lên cấp 3 phải rẽ ngang đi học Sư phạm Miền núi, chỉ còn cái Kính và cái Mai ngày ngày tiếp tục lên trường.
Ba năm học sư phạm, về thăm nhà lần nào tôi cũng ra trại lợn thăm chú Ba. Cái Mai và Kính học cấp 3, vì trường xa nên trú lại, cuối tuần hai đứa mới về. Vậy là anh em chúng tôi gặp nhau. Mai và Kính đã thành thiếu nữ xinh đẹp. Đó là những giây phút chú Ba rất vui. Chú cười chú nói, chú gọi Kính là con. Ở xa, tôi không biết việc Ngoạn cũng đã về thăm chú. Và mãi sau này tôi biết thêm việc chú có ý định nhắm cái Kính cho Ngoạn, con trai chú nhưng rồi không thành. Việc này tôi không mấy để ý.
Năm 1970 Mỹ ngưng ném bom miền Bắc, mấy gia đình chúng tôi về xuôi, tôi tốt nghiệp ra trường đi dạy ở Nghĩa Đàn và nghe tin cái Kính và cái Mai vẫn tiếp tục học cấp 3. Hai năm sau, năm 1972, lên đường nhập ngũ, tôi xa cái Mai và Kính, xa chú Ba từ đó. Hết chiến trường Lào lại chiến trường Quảng Trị, nhiều lúc nằm ở hậu cứ tôi lại nhớ về Kính, Mai, và nhất là nhớ tới chú Ba Huế. Tôi nhớ cái trại lợn, nhớ dáng hình chú, nhớ giọng Huế trầm ấm của chú. Nhớ những miếng mì rán, nhớ những bát cháo chú cho ăn. Lòng tự hỏi, chẳng biết lúc này chú thế nào, và cái Mai, cái Kính ra sao.
Miền Nam giải phóng, đơn vị tôi đóng quân sát bờ Bắc cầu Hiền Lương. Ngày ngày nhìn dòng người đi tập kết trở về, có người về một mình, nhiều người có cả vợ con, tôi cứ tự hỏi, trong những người kia có ba con chú Ba Huế không. Tôi tự trách mình sao dạo đó không hỏi chú ở đâu trong Huế, để nếu biết tôi sẽ vào Huế đi tìm. Dạo đó tôi quen nhiều các anh công an gác bờ Bắc, và cả các anh công an biên phòng gác bờ Nam nên qua cầu rất dễ.
Lúc này, cầu Hiền Lương vẫn đang là ranh giới Nam Bắc. Bờ Bắc là lãnh thổ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bờ Nam là lãnh thổ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam nên muốn qua cầu phải làm thủ tục. Người đi tập kết trở về, đợi làm thủ tục trải ni lông, trải chiếu vạ vật trên những vạt ruộng khô dọc hai bên đường gần cầu Hiền Lương rất đông, để đến lượt phải chờ rất lâu. Có tối tôi lân la từng tốp dò hỏi nhưng vẫn không gặp chú và không ai biết chú. Tôi không thể biết chú có về không. Nếu về thì đã về chưa, cũng có thể chú đã về Huế rồi.
Mãi sau này, năm 1977, khi đã ra quân trở về, gặp lại Kính tôi mới biết học xong Kính và Mai mỗi đứa một ngả, chỉ lâu lâu mới có thư cho nhau. Mới đây, kỳ giỗ bố Kính, chú tôi. Tôi gặp Kính và được em cho biết Mai đang dạy học ở Nghĩa Đàn và có chồng người làng bên cạnh chỗ trại lợn ngày trước, Ngoạn có công việc và lấy vợ ngoài Bắc. Một mình chú Ba trở về Huế, rồi vào Quảng Nam tìm lại vợ con. Như vậy là hơn hai chục năm trên đất Bắc, ngoài anh con trai đầu ở xa, đứa con nuôi ở gần, chú vẫn kiên trinh chờ ngày trở về với vợ con. Tôi cứ lẩn thẩn nghĩ, chẳng biết chú có tìm thấy vợ con không. Vợ chú có chờ được chú không. Chiến tranh loạn ly, xa mặt cách lòng. Ra đi tập kết, người độc thân không nói làm gì; người có vợ sẽ nghĩ, biết người ta còn chờ đợi nữa không. Hai mươi năm chớ đâu có ít, trong lúc tuổi thanh xuân cứ vùn vụt trôi đi và người ra đi biết có quay về. Làm sao chờ người đi mãi không về.
Việc chú có tìm được vợ con không cả tôi và Kính đều không biết. Nhiều lúc tôi tự hỏi, vợ chú có đợi chú không. Bởi tôi biết, nhiều người trở về thì vợ đã lấy người khác. Lại có người mang vợ miền Bắc trở về thì vợ miền Nam vẫn còn chờ đợi. Bao bi kịch đã xảy ra.
Viết đến đây, hình ảnh về những ngày đó cứ hiện về trong tôi như một đoạn phim quay chậm. Hình ảnh chú Ba bụng, và với tôi là chú Ba Huế cứ hiện ra mồn một. Chú Ba cởi trần, bụng phệ, khăn mặt vắt vai, lúc cầm dao, lúc vác cuốc. Chú Ba vô ra trong căn nhà nứa nơi vạt rừng sơ tán. Chú Ba hét mấy đứa chúng tôi ra hầm khi máy bay phản lực rít bổ nhào ngoài đường 15… Mấy lần vào Huế, tôi tha thẩn một mình dọc đường lên chùa Thiên Mụ. Đi qua làng Kim Long tôi như thấy thấp thoáng bóng chú. Qua Đập Đá, nghe tiếng Huế của mấy người xích lô tôi lại ngỡ như là chú ngồi ngay sau lưng mình. Tôi đi dọc đường Lê Lợi rực màu phượng đỏ, nhìn những con đò lững lờ trôi trên mặt nước sông Hương trong xanh, nhớ tới chú thấy lòng buồn man mác. Tôi thầm gọi tên chú. Chú Ba Huế của tôi.
N.N.L
(TCSH448/06-2026)