LÊ VŨ TRƯỜNG GIANG
Lâu rồi tôi không đọc thơ cho đến một ngày đợi người bên ga Huế thẫn thờ tiễn năm cũ qua, đón năm mới đến chợt vấp phải những dòng thơ của Lê Văn Vọng: “Qua cửa sổ con tàu là đất nước, là em/ Dáng mẹ lưng còng/ Những căn nhà mái tranh/ Những cánh đồng quanh năm nước nổi/ Mặt trời lên/ Mặt trời chìm/ Giọt mồ hôi cha kết tinh thành muối/ Giọt mồ hôi em vở học trò bổi hổi”.
Sân ga nhiều tâm sự đã dành cho tuổi hoa niên tay vàng khói thuốc, cho đêm lao xao ánh đèn dầu ấp ủ tình riêng và cả những mù sương dưới tán bồ đề chông chênh ngày tháng.
Trong không gian đặc quánh của khói tàu và sương đêm, ga Huế như tấm gương phản chiếu hai thái cực đối lập nhất của bao cuộc người chìm nổi. Ta thấy được sự giao thoa mãnh liệt giữa niềm hân hoan vỡ òa khi người viễn xứ hồi hương, tìm về hơi ấm gia đình sau bao ngày bôn ba và cả nỗi sầu muộn tê tái của kẻ phải dứt lòng ra đi, để lại sau lưng ánh nhìn bịn rịn của người ở lại. Sự chia ly của “Hết rồi từ đây”: “Nhìn đoàn tàu cuối em xa nghìn trùng/ Một mình anh giữa sân ga buồn buồn” của Dino Phạm Hoàng Dzũng trong lãng mạn bi thảm ở một khung trời nào đó để lại tiếng lòng khắc khoải khôn nguôi. Đoàn tàu lầm lũi chuyển bánh cùng tiếng còi rúc lên xé toạc không gian từ lâu đã trở thành biểu tượng cách trở, chia phôi. Tôi đứng giữa sân ga ấy dù là người tiễn đưa hay kẻ lên tàu đều thấu hiểu trọn vẹn dòng phức cảm đầy nghịch lý của cuộc người rằng để đến được bến bờ của những cuộc gặp gỡ, con người buộc phải băng qua những ga xép ly biệt. Chút cảm hoài nơi sân ga Huế là mảnh như hạt mưa mù miền Hương Ngự, thấm đẫm triết lý về sự vô thường và sự chảy trôi không thể cưỡng cầu của số phận bao người nghiệt ngã trôi lăn.
*
Ngược dòng thời gian về những năm cuối thế kỷ XIX, xứ kinh kỳ thanh tĩnh bỗng xao động bởi sự xuất hiện của một “con quái vật” bằng sắt thép trong mắt người Huế thời đó. Ký ức của những bậc cao niên lần đầu tiên ngạc nhiên nhìn khối máy móc lừng lững, đốt than rừng rực, phun ra những vệt khói xám xịt phủ mờ cả một góc trời. Những tàn lửa đỏ rực theo gió gieo rắc nỗi lo âu cho những mái nhà tranh vách đất ven đường, để rồi từ cái sự “hỏa” đầy biểu tượng ấy, những danh xưng như “xe lửa”, “hỏa xa”, “tàu hỏa” đã nghiễm nhiên đi vào từ vựng dân gian như một chỉ dấu của thời đại mới. Nếu lật lại những trang sử liệu của triều Nguyễn, ta sẽ thấy ga Huế có cùng một giấy khai sinh với những biểu tượng kiêu hãnh khác như cầu Trường Tiền hay Trường Quốc Học (nay là Trường THPT Chuyên Quốc Học - Huế). Thuở ban sơ, người ta gọi nơi này là ga Trường Súng gợi nhắc về một thời binh lính triều đình mải miết tập luyện trên khu đất này. Ngay cả bến đò ngang nối nhịp sông Hương thuở ấy cũng mang cái tên mộc mạc như thế. Nhưng sự hiện diện của nhà ga này lại là một nốt trầm đầy suy tư trong dòng chảy văn hóa Huế. Ai có thể ngờ rằng, vua Thành Thái, một tâm thức duy tân và đầy trăn trở đã chấp nhận phế bỏ ngôi miếu Lịch Đợi Đế Vương linh thiêng để nhường chỗ cho đường ray sắt Âu Tây lạ lẫm. Ngôi miếu ấy mất đi, nhưng linh hồn của nó vẫn lẩn khuất trong tên gọi của những con phố bên đường tàu của những người lao động mưu sinh bằng việc bốc vác hay bán dạo đồ ăn vặt, tạo nên một khung cảnh đặc trưng đến quen thuộc của ga tàu.
Dưới lớp rêu phong của sân ga hiu quạnh đều in dấu chân của những người con ưu tú của dân tộc như Nguyễn Tất Thành, Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng, Võ Nguyên Giáp, Tạ Quang Bửu… Họ đã từng đứng đợi chuyến tàu định mệnh để ra đi tìm con đường cứu nước.
Ga Huế cũng là sân khấu cho những bi kịch vương triều. Cùng một sân ga, nếu vua Bảo Đại hào hứng lên tàu vào Nam để sang Pháp với những cuốn hồi ký hoa mỹ, thì vua Thành Thái lại nếm trải một dư vị hoàn toàn khác. Vua Thành Thái (1889 - 1907) chứng kiến việc xây dựng và hoàn thành tuyến đường sắt chạy từ Đà Nẵng đến Đông Hà, được xây dựng từ năm 1899 đến 1908 gần tương ứng với triều đại của ông. Tuyến đường này dài 175km, với chi phí 32 triệu Franc, được khánh thành vào ngày 5/9/1908. Sau khi bị phế truất năm 1907, tới năm 1916, nhà vua cùng con trai là vua Duy Tân bị lưu đày trên chính chuyến tàu ấy, lẳng lặng biệt xứ xa xôi ở đảo Réunion. Kỳ tích “qua đèo mây” đầy tham vọng của Toàn quyền Paul Doumer đã hiện thực hóa bằng một số tiền khổng lồ để nối liền huyết mạch Bắc - Nam. Những người thợ năm xưa đã phải “xẻ dọc” Hải Vân để khai mở tuyến hầm đường sắt vĩ đại. Để rồi vào một ngày đông tháng Chạp năm 1908, con tàu đầu tiên đã kiêu hãnh xuyên qua lòng núi, vượt qua “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” để tiến về phía Huế. Hệ thống 8 đường hầm nối tiếp nhau như một kỳ quan cơ khí thời bấy giờ. Triều vua Khải Định (1916 - 1925) tiếp nối công đoạn kết nối tuyến Đông Hà - Vinh với tinh thần: “Xây dựng tuyến giao thông đường sắt giữa Bắc Kỳ và Trung Kỳ là rất hợp thời. Nếu không vật vã một phen thì làm sao có an nhàn mãi mãi, không chịu phí tổn nhất thời làm sao có được yên ổn lâu dài” (Đồng Khánh - Khải Định chính yếu, tr. 297). Năm 1922, tuyến đường này được khởi công. Nhà vua quan niệm rất rõ ràng rằng: “Trẫm đã suy nghĩ kỹ càng, tuyến đường này hoàn thành sẽ đem lại lợi ích vô cùng cho nước ta. Đối với quốc gia không gì cao hơn kinh tế, mà trong kinh tế không gì cao hơn việc đem lại lợi lạc cho nhân dân” (Đồng Khánh - Khải Định chính yếu, tr. 296). Triều đình Huế phải huy động công trái theo giao ước với chính quyền bảo hộ Pháp tới 6 triệu Franc. Tuyến đường sắt từ Vinh đến Đông Hà dài 299km, được khánh thành vào ngày 10/10/1927, với tổng chi phí là 163 triệu Franc. Vua Khải Định không may băng hà sớm nên không chứng kiến được thành quả của sự hợp tác mà ông khởi xướng.
Ga Huế và tiếng còi tàu bất hủ đã khuấy động tinh thần văn nghệ trong những năm 1930. Chuyện là vào năm 1935, nhà thơ Huy Cận và Nguyễn Xuân Sanh đang là học sinh Trường Quốc Học. Hai ông học khác lớp nhưng cùng chung một ký túc xá, tình bạn vô cùng thân thiết. Hai bạn trẻ có cùng sở thích đọc sách và thường xuyên lui tới hiệu sách Hương Giang do vợ chồng nhà cách mạng Hải Triều làm chủ. Một lần, nhà báo Hải Triều bảo: “Thứ Sáu tuần này, tập truyện Kép Tư Bền của nhà văn Nguyễn Công Hoan sẽ vào Huế. Đến thứ Tư tuần sau, nhà văn Nguyễn Công Hoan sẽ vào thăm sông Hương núi Ngự bằng tàu hỏa và chiều thứ Năm sẽ ký tên vào Kép Tư Bền cho độc giả”. Họ rất mực để ý đến những tiếng còi tàu. Tiếng còi thứ nhất vào ngày thứ Sáu là chuyến tàu họ biết trong một góc toa nào đó, nhiều bó sách Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan đã được chất chồng, đưa vào cho bạn đọc miền sông Hương. Thế rồi họ có một đêm vui khó ngủ với Kép Tư Bền. Tiếng còi tàu thứ hai vào thứ Tư tuần sau, họ biết rằng nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan họ chưa biết mặt sẽ đến đất Huế. Huy Cận và Xuân Sanh muốn ngủ chậm lại hơn những đêm trước. Hôm sau, cả hai mua chung một cuốn Kép Tư Bền nhưng cùng đứng hai người đợi ký tặng. Trong lòng họ ai nấy đều phấp phỏng. Cả hai ngắm nhìn nhà văn Nguyễn Công Hoan có mái tóc đen, húi hơi ngắn, tay cầm bút, mắt nhìn ngòi bút. Mỗi lần ký xong, nhà văn lại quay nhìn người đưa sách ký. Nhà văn có vẻ như cười với Huy Cận, vì Huy Cận là người đã cầm cuốn Kép Tư Bền xin chữ ký. Cả hai cười mãn nguyện vào phút nghiêm nghị mà thân tình hiếm có này. Nhà văn Nguyễn Công Hoan bắt tay tạm biệt hai cậu học trò khi ngọn đèn điện trong hiệu sách Hương Giang vừa bật sáng. Họ bắt tay nhà văn, kính mến nhìn. Ra về, lòng ai cũng cả mừng được gặp gỡ với nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan. Họ lại nghe tiếng còi tàu lần nữa rằng nhà văn Nguyễn Công Hoan đã lên đường cùng tác phẩm của mình lang thang trên những dặm đường đất nước. Vậy là lần gặp gỡ đó đã thổi thêm lửa đam mê vào tâm hồn hai cậu học sinh Trường Quốc Học, về sau trở thành những nhà thơ lớn của đất nước.
Và lịch sử ngành đường sắt Việt Nam không thể quên ngày 25/2/1946. Giữa không khí sục sôi của những ngày đầu độc lập, ga Huế đã đón tiếp những đại biểu của tổ chức “Hỏa xa cứu quốc”. Dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Duy Trinh, Công đoàn đường sắt đã chính thức ra đời, đánh dấu một bước ngoặt về ý thức giai cấp và tinh thần yêu nước của những người công nhân tàu hỏa. Và rồi, sau những năm tháng chia cắt đau thương, ga Huế lại được chọn làm nơi “Nối vòng tay lớn”. Vào những ngày cuối năm 1976, khi tiếng súng lệnh vang lên, hai đoàn tàu Thống Nhất đã cùng xuất phát từ hai đầu đất nước để hướng về mảnh đất miền Trung nắng gió. Sáng mùng 2 tháng Giêng năm Đinh Tỵ - 1977, đoàn tàu từ Hà Nội và chuyến tàu từ Sài Gòn đã gặp nhau tại ga Huế trong niềm xúc động nghẹn ngào. Ga Huế là điểm giao thoa của tình thân, là biểu tượng rực rỡ cho sự toàn vẹn lãnh thổ và khát vọng hòa bình của những người con xứ Huế và cả đất nước Việt Nam. Cũng cần nói thêm rằng, trải qua 120 năm dạn dày sương gió, ga Huế là cánh cửa mở ra những cuộc giao lưu văn hóa quốc tế đầy bất ngờ. Ít ai ngờ rằng, trên cái nền gạch cũ kỹ ấy, bước chân của “Vua hề” Charlie Chaplin từng rộn rã lướt qua trong chuyến du ngoạn Đông Dương, mang theo nụ cười trào phúng xuyên biên giới chạm một dấu lạ vào vẻ trầm mặc của Cố đô. Hay hình ảnh lịch lãm của Quốc vương Sihanouk cùng vẻ đẹp đài các của Hoàng hậu Campuchia cũng từng lưu dấu tại đây, biến sân ga thành nhịp cầu hữu nghị lân bang.
Tiếng còi tàu rúc lên giữa đêm khuya, ánh đèn vàng hiu hắt đổ bóng xuống đường ray hun hút, hay cảnh chia ly nhuốm màu sương khói... tất cả đã hóa thân vào những vần thơ, trang văn của biết bao thế hệ cầm bút vùng đất Thần kinh như lời nhà thơ Võ Quê từng “Viết vội trên sân ga Huế”: “Dập dìu kẻ đón người đưa/ Trên sân ga Huế sớm trưa khuya chiều/ Nụ cười nước mắt thương yêu/ Chia ly hội ngộ, trăm điều riêng chung/ Còi tàu vang vọng không trung/ Nhìn nhau quyến luyến, nghìn trùng ở đi”.
*
Còn tôi vẫn nhớ lần đầu tiên cuốc bộ lên ga Huế gắn với ông bạn văn của buổi chạng vạng mùa hè. Chuyện vẫn còn dài mà quán cà phê phải đóng cửa. Ông bạn nói: “Đi uống trà ga Huế không?”, tôi gật đầu. Vậy là cuốc bộ từ đường Phạm Hồng Thái lên ga ngót nghét 1,5km. Bước chân ông bạn thoăn thoắt trên vỉa hè, đèn đường vàng võ, nhạt nhòa, bóng người ngả nhoài trong đêm tối. Lần đó tôi thấy con đường Lê Lợi sao cổ kính mà u hoài vậy, thơm thơm tán lá hàng cây long não và thơm cả dòng Hương đang mải trôi bên phía tay mặt. Đến ga, một chiếc bàn nhựa trên đó đã có sẵn cây đèn dầu, hai cái ghế nhựa thấp thấp bé bé không có lưng tựa, một ấm trà nóng, một dĩa kẹo lạc, một dĩa hạt dưa nhanh chóng được bưng ra và nữa, một điếu cày nếu cần thả khói giữa trời đêm. Chuyện cứ thế say sưa, chuyện cứ thế kéo dài rồi chợt im lặng khi tiếng còi tàu cất lên liên hồi, người xuống kẻ lên dập dìu bận rộn… rồi im ắng, chỉ còn tiếng chuyện trò lao xao, chỉ còn tiếng rít thuốc lào kéo dài tiếc nuối.
Từ trà ga rồi nhảy qua bia ga khi chuyến ghé chơi vào hồi muộn. Sân ga không ngủ, quán mở suốt đêm. Và nữa, lời ca tiếng hát cũng cất lên từ những đêm sầu muộn, hồi sinh cho những cơn mê cùng thiên trường địa cửu. Tôi quen Tài và Đức trong đêm ca túy lúy, khi hồn rã rời về ngày mai tuổi trẻ. Khi đành đoạn với người cũ, bài hát “Lời đắng cho cuộc tình” của Nhật Ngân vang lên bi thiết và cũng mở ra một cánh cửa nhỏ cho những nghĩ suy như muốn lao xuống cùng vực thẳm: “Một đường tàu biết mấy sân ga/ Xin em xem anh như một ga nhỏ dọc đường”. Nỗi buồn nào rồi cũng qua đi, vết thương nào rồi cũng khép lại, hãy giữ những khoảng ký ức đẹp của “ga nhỏ dọc đường”, của một thời mộng dưới hoa ong bướm rộn ràng. Mười mấy năm lui tới sân ga trong những đêm trường dù mùa hè rực nóng, dù mùa đông khô lạnh. Có lần vấp ngã, tôi trốn tất cả để một mình đối diện sân ga chờ đêm qua tan biến niềm riêng. Thương đám bè bạn đêm đó đi tìm để chắc rằng mình ổn. Ga Huế không nói gì với tôi, chỉ lẳng lặng nghe tôi hay tôi nghe chính lòng mình. Ga Huế đã ở đó, luôn ở đó để chứa bầu tâm sự cho người, nghe người tâm sự, chuyện trò, hát ca… bất kể điều gì có thể làm họ thoải mái. Nhìn sân ga, nhìn người người ngược xuôi, vào vào ra ra với bao tâm trạng. Tiếng cười có, nước mắt có, những cái ôm, những vỡ òa, những xa xót… cho cuộc thế nhân trùng phùng rồi lại cách chia. Ta thấy vậy để biết trân trọng cho những gì mình đang có, của thực tại nắm chắc, như bây giờ và chưa bao giờ… Ơ hay, chẳng phải thi sĩ Nguyễn Bính đã từng thốt lên một sự thật thắt lòng về sân ga “Những cuộc chia lìa khởi tự đây”: “Có lần tôi thấy một người yêu/ Tiễn một người yêu, một buổi chiều/ Ở một ga nào xa vắng lắm/ Họ cầm tay họ, bóng liêu xiêu”.
Một sớm cuối năm, tôi ngồi trong hàng quán lướt thướt nước mưa, đợi đón bạn. Trời vẫn đen đặc, lạnh giá. Một bác chạy xe ôm gương mặt hốc hác ngồi cạnh bên chờ khách. Tôi bắt chuyện mới biết bác chạy xe ôm ở ga 23 năm rồi, nuôi 3 mặt con ăn học. Một cháu mới ra trường hiện chưa có việc làm, hai cháu còn lại đang học cấp 2, cấp 3. Hoàn cảnh của bác cũng rất đáng thương, không có nhà cửa nên ở nhờ nhà người o ruột bên Thượng thành. Giờ khu vực đó di dời, con cái người o xây nhà mới ở khu tái định cư. Bác đành thuê trọ gần ga, bám vào ga mà sống. Vợ bác rửa chén thuê cho quán cơm. Bác chạy xe ôm và thi thoảng làm việc vặt sửa chữa cho các hộ trong ga. “Dạo này khách vắng lắm chú à? Họ toàn đặt trên điện thoại. Tui giờ ít khách lắm”, bác nói. Thời buổi công nghệ mọi thứ đổi thay nhiều quá, những người như bác chật vật mưu sinh với chiếc xe cà rịch cà tang. Tôi hỏi sao bác không tham gia các ứng dụng như Grab, Be… thì mới biết bác chưa bao giờ biết điện thoại smartphone là gì, app là gì và cả chiếc xe cũng không đủ tiêu chuẩn để đăng ký tham gia. Tôi mời bác ly cà phê, biếu bác một ít để lo cho cái tết cận kề. Chia tay bác, một trận mưa òa xuống con đường, hơi nước bay đầy không trung, làm mờ đi hai chữ Ga Huế trên tấm biển còn sáng đỏ trong đêm.
Nơi sân ga ấy, tôi có dịp biết đến chị Nguyễn Thị Hồng Hà, một người con gái Huế xa quê, đã từng là cư dân xóm ga cũ những mấy mươi năm. Dù sau này sinh sống ở Sài Gòn nhưng năm nào chị cũng lặn lội về, chỉ cần nghe tiếng còi tàu, thấy cảnh lao xao chộn rộn trên sân ga là lòng nhẹ bẫng. Về Huế là chị về ga, về ga vì ở đó còn bóng dáng người cha già thấm sâu trong ký ức không thể nào quên. Mỗi lần về thăm Huế, chị lại kể cho tôi nghe những câu chuyện về xóm ga một thời, về ba chị là cụ Nguyễn Văn Thị người đã sống ở ga từ thập niên 1940 cho đến khi ông qua đời vào năm 2010. Ở bên ga Huế, con đường đất vẫn còn in vết dép, với mỗi buổi chiều đều rộn tiếng chơi đùa, chị và các anh em trong gia đình đã sống một tuổi thơ gắn liền với những rạp chiếu bóng, những đợt hội chợ Tết, những trận tắm mưa và cả những trò chơi dân gian vui nhộn. Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những hoạt động văn nghệ chuyển vào ga Huế. Chị còn nhớ như in cảnh bộ đội giăng màn to giữa sân ga, người dân từ khắp nơi kéo đến, ngồi chen nhau trên nền xi măng hoặc lót dép để xem phim chiếu bằng máy quay. Có người mang theo ghế từ nhà ra, có người chỉ ngồi xổm dưới nền đất. Gia đình chị ở gần ga, nên anh chị em trong nhà thường dành chỗ ngồi trước để xem cho rõ. Tuổi thơ ấy nằm trong từng cơn mưa chiều đổ xuống khu ga và xóm con nít ùa ra sân tắm mưa. Có hôm, mặc quần xà lỏn, bọn trẻ nằm lăn trên lề đường sạch bóng. Mưa xuống là chạy, là hét, là nhảy cà tưng trên nền sân xi măng mát lạnh. Một vài nhà thì cấm con gái ra tắm nhưng ở sân trước nhà bác Nghị hay ở góc sân chưa lót gạch, bọn trẻ có thể chạy nhảy thoải mái. Mưa là phép màu, biến khu xóm ga thành công viên nước trời cho. Và nữa, bao trò chơi thơ dại của con trẻ như trò tán lon, bắn lon, nhảy dây, trốn tìm, cướp cờ… đều có sự tham gia của chị. Hai người anh là Phúc và Lộc, mỗi lần chơi tán lon là dẫn dắt cả đội. Mỗi lần ai bị “đừ”, tức là bị thua, thì cả nhóm cười nghiêng ngả. Có lần đùa quá trớn, mấy đứa ghét ai là “cho đừ luôn”, đuổi chạy khắp sân, cười rộn cả góc phố.
Những buổi đi học cũng là một phần của tháng năm tươi đẹp ấy. 15 anh chị em trong gia đình đều tự đi bộ đến trường mà không cần ai đưa đón. Có khi đi cùng bạn trong xóm, có khi đi một mình. Hầu như không ai có xe đạp, không cần ai cõng, tự đi tự về, tự giữ mình khỏi việc trốn học, chuồn tiết. Một lần, vài người con trai lớn bị đánh đòn vì chuyện đó, nên về sau các con ai cũng nghiêm túc. Ba chị không hiện diện trực tiếp trong mỗi trò chơi, mỗi trận tắm mưa hay mỗi buổi xem phim nhưng sự nuôi dưỡng tự do, tinh thần sống đơn giản và tử tế mà ông trao truyền đã tạo nên một bầu khí an toàn để con cái trưởng thành. Tuổi thơ bên ga Huế giàu ký ức, giàu yêu thương và giàu những hình ảnh sống mãi trong lòng người đã đi qua nó.
Những ngày lễ như Trung Thu, Phật Đản, Vu Lan hay Noel là dịp để con cháu quây quần, ăn uống đủ đầy, giữ lấy nếp nhà. Mỗi mùa lễ đến, căn nhà lại sáng lên vì tiếng cười, mùi thức ăn và ánh đèn lồng treo dưới hiên nhà. Mỗi mùa lễ đến gia đình lại sum vầy, để ký ức sống lại và để truyền thống được giữ gìn qua từng nghĩa cử. Ở Huế, mỗi năm đến mùa Phật Đản, phố xá treo đèn hoa, người người rủ nhau đi rước xe hoa. Chị vẫn nhớ rõ cái cảm giác nôn nao khi chiều xuống, tiếng trống, chuông vang vọng từ các ngôi chùa và những đoàn người đi theo chiếc xe hoa rực sáng chầm chậm qua cầu Trường Tiền. Ở nhà, không khí ấy theo về bằng cả thành kính và cảm xúc chân thật của một gia đình Phật tử thuần thành. Ba chị bày hương án cúng rằm, lễ Phật, mỗi người đều thắp một ánh đèn trong lòng bằng những niệm lành ngày Phật Đản.
Riêng Trung Thu là một thế giới khác. Đó là mùa của đèn, của trống múa lân, của tiếng trẻ con cười khúc khích dưới hiên nhà. “Ba Thị là người đặc biệt yêu thích Trung Thu”, chị kể. Năm nào ông cũng tự tay làm lồng đèn cho con cháu. Có khi là hình cá chép, khi là hình ông sao, có năm ông làm cả đầu lân bằng giấy bồi, vẽ mặt, dán giấy bóng loang loáng ánh nến không thua gì đầu lân bán ngoài chợ Đông Ba, đường Trần Hưng Đạo. Trẻ con trong xóm háo hức đứng ngó từ sáng, đợi tối đến là chạy theo đoàn múa do chính ông tổ chức. Ông làm bằng tất cả sự háo hức của người lớn biết thấu nỗi niềm của những đứa trẻ lớn lên trong thời chiến, giờ mới được đền bù bằng tiếng cười con cháu. Cái thú làm lồng đèn ấy sau này được truyền lại. Mấy đứa cháu bên ngoại, dù sống ở nước ngoài vẫn nhớ kỹ từng cách dán giấy, chẻ tre, gắn chốt. Đến Trung Thu, vẫn có đèn treo trước cửa. Những chiếc đèn ấy thắp sáng sân nhà, sân ga, thắp lại hình bóng ông ngoại đã từng làm nên cả một mùa Trung Thu rộn ràng cho lũ nhỏ. Những món quà tự tay làm của ông quý giá hơn bất cứ món đồ chơi hiện đại nào. Đến cả lễ Giáng Sinh, Tết Âm lịch, những cuộc gặp mặt, ăn uống, trò chuyện cũng luôn giữ nền nếp ông để lại. Chỉ cần có nhau, có ba, có những câu chuyện là đủ thấy ấm lòng. Sau này, dù ba chị đã đi xa, nhưng vẫn hiện diện qua cách con cháu chơi Tết, treo đèn, bày bánh và giữ nếp sống chừng mực, đúng như cách ông từng làm cả đời. Người xóm ga như ông Nguyễn Văn Thị đã để lại thông điệp giản dị, đừng để mất đi cái vui nhỏ trong đời vì trong những cái vui nhỏ ấy, có quê hương, có ký ức và có cả tình cảm gia đình rất trân quý.
Chị Hồng Hà nhớ về ngày cuối cùng của ba, các anh em trong gia đình ngồi bên ba cho đến hơn 22 giờ. Ba nằm đó, chờ cô con gái út Hồng Hà từ Sài Gòn về. Ba của họ ra đi trong sự sum họp ấy, như thể muốn khép lại một đời dài bằng khoảnh khắc gia đình quây quần bên nhau. Tiếng còi tàu vang lên trong sân ga biền biệt như báo hiệu một cuộc chia ly vĩnh viễn. Các con nhìn người cha già lần cuối, lòng dâng lên nỗi xót xa khôn cùng nhưng cũng nhẹ nhõm khi biết ba của họ đã đi trong thanh thản, bình yên. Khi chị Hồng Hà chưa kịp về tới nơi, người ba thân yêu của chị đã nhẹ nhàng ra đi như một dòng sông đã đến đoạn cuối, lặng lẽ tan vào biển cả. Tiếng còi tàu da diết giữa khuya như tiễn người con của ga Huế về bên kia vĩnh cửu. Cái chết đến như một giấc ngủ sâu. Ông nằm yên, buông tay, để lại sau lưng cả một đời lo toan, để lại cho con cái sự chở che đã đi cùng họ suốt bao năm tháng. Sau khi ba mất, có những buổi chiều, chị Hồng Hà lên chùa, ngồi lặng nơi hàng hiên, nhìn khói hương vờn bay giữa không gian tịch lặng. Chị không cầu xin gì, chỉ ngồi đó như thể vẫn còn được nghe tiếng cha giảng ngày xưa, nghe một bài kinh cũ, nghe một bài học chưa từng quên. Một người cha như ông Nguyễn Văn Thị đã đi qua cuộc đời này bằng những bước chân nghị lực và tình thương, để lại trong lòng con cái những cảm thương không thể đo lường. Ông thực hành đạo Phật bằng chính một đời sống tỉnh thức. Và cho đến tận phút lâm chung, ông vẫn để lại một bài học cho con cháu phải biết sống cho đúng đạo làm người và mất đi trong an tịnh, nhẹ nhàng.
*
Sân ga Huế tối nay lại chìm trong làn mưa bụi giăng mắc dệt nên một tấm màn nhung phủ lên những thanh ray hoen gỉ. Trong tiếng xình xịch đều đặn còn âm vang, ta đang tìm lại dư âm của một thời quá vãng, những chuyến tàu đi xa, đến rồi đi, Nam rồi Bắc, gặp gỡ rồi chia xa... Những bàn tay vẫy chào qua ô cửa sổ nhỏ, nụ cười hiền từ nhạt nhòa dần trong làn sương sớm, để lại trong lòng ai niềm mong ngóng tháng ngày. Chị Hồng Hà vẫn ngồi đây bên sân ga vắng như chờ đợi ba đã đi vào một hành trình xa thẳm. Chỉ nỗi nhớ luôn trỗi dậy, cồn cào, da diết như nhịp đập của những bánh xe lăn đều đặn trên đường sắt. Tiếng còi tàu lại vang lên, chị dụi hai mắt, nhìn về xa xăm. Bóng ai quen thuộc còn đó trên sân ga leo lét ánh đèn vàng. Ôi những lữ khách muôn phương, những tình yêu thăm thẳm đợi chờ, những cố nhân tìm về quê cũ có nhớ rằng khói tàu có thể tan vào mây trời, những chuyến đi có thể nối dài vô tận nhưng ký ức rêu phong nơi sân ga này sẽ mãi là một phần máu thịt của mảnh đất Huế thân yêu. Để rồi mỗi khi xa Huế, ai đó vẫn nhớ một góc ga Huế già nua, cổ kính còn lưu lại những giọt nước mắt chia ly và cả những nụ cười đoàn viên ấm áp. Thôi, đọc lại một đoạn thơ Xuân Quỳnh để thấu nỗi lòng cả người đi và người ở lại vậy: “Sân ga chiều em đi/ Gạch dưới chân im lặng/ Bóng anh in thành tàu/ Tóc anh xòa ngang trán/ Sân ga chiều em đi/ Bàn tay da diết nắm/ Vừa thoáng tiếng còi tàu/ Lòng đã Nam đã Bắc”.
L.V.T.G
(TCSH448/06-2026)