LÊ NGỌC SƠN
Dù trước đó chưa từng được đến Huế, nhưng câu hát quen thuộc mà tôi nghe từ chiếc máy chạy bằng cuốn băng từ ở nhà bác tôi vào những năm đầu thập niên chín mươi của thế kỷ trước đã in vào tâm hồn khi tôi chỉ là một chàng thiếu niên những năm cuối cấp hai.
“Đã đôi lần đến với Huế mộng mơ. Tôi ôm ấp một tình yêu dịu ngọt”, câu hát cứ văng vẳng bên tai như một lời mời gọi. Rồi hình ảnh người nữ ca sĩ mặc áo dài tím, đội vành nón trắng đứng bên dòng sông cất tiếng hát với âm điệu thật đặc biệt; tất cả những ấn tượng từ thuở thiếu thời ấy, không hiểu từ bao giờ đã ám gợi trong tôi. Tôi cứ nghĩ tới hình ảnh chiếc áo dài tím. Tôi chẳng thể lý giải vì sao mảnh đất ấy lại có sức hút kỳ lạ với mình đến thế. Chỉ biết rằng, tôi đã từng tự nhủ: một ngày nào đó nhất định phải đặt chân đến vùng đất này.
Chưa đến Huế, nhưng tôi đã gặp hai người xứ Huế, những người đã để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc. Người đầu tiên tôi gặp là một bạn học cùng giảng đường đại học, bạn Nguyễn Minh Châu, người gầy, có lẽ là nhỏ nhất giảng đường. Bạn nói giọng Huế tôi nghe khó đoán hơn giọng Nghệ An, Hà Tĩnh. Bạn là người học giỏi nhất lớp Tự động hóa, của Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội năm đó. Thấy bạn giỏi, tôi tò mò hỏi lai lịch, thì ra bạn là dân Quốc Học Huế. Lúc ấy, tôi cứ thắc mắc mãi: sao bạn lại đi xa xôi, ra tận Thủ đô để học như thế. Sau này mới biết, vì muốn theo học ở nơi hàng đầu về khoa học công nghệ, nên bạn đã chấp nhận đường xa. Điểm các năm học của bạn đều trên 9, theo thang điểm 10. Đồ án các môn học của bạn, nếu được phát triển thêm, có thể sử dụng ở những bậc học cao hơn. Ở con người nhỏ bé ấy, tôi cảm nhận được một niềm say mê học tập rừng rực.
Người xứ Huế thứ hai mà tôi gặp là một bạn trai, trên hành trình leo núi chinh phục đỉnh Fansipan, ngọn núi cao nhất Việt Nam thuộc tỉnh miền núi phía Bắc Lào Cai. Bạn từ Huế ra và đặt mục tiêu chinh phục Fansipan như một món quà dành cho chính mình trong ngày sinh nhật. Bạn khá yếu và chân bị tật, nhưng nghị lực thì phi thường. Dù đi cùng nhóm bạn và có người bản địa dẫn đường, nhưng bạn không để ai dìu, tự mình mang vác ba lô. Bạn luôn ở nhóm sau cùng, khó nhọc từng bước một. Nhưng bạn không bao giờ bỏ cuộc, dù với người bình thường, việc chinh phục đỉnh Fansipan đã là vô cùng khó khăn. Đoạn đường từ lán nghỉ ở độ cao 2.400m lên tới đỉnh núi thực sự là một thử thách gian nan. Sương mù dày đặc, đường trơn trượt, người bám người nối tiếp nhau đi. Gần tới đỉnh, chỉ còn những khóm trúc nhỏ. Leo mãi, tới gần 10 giờ sáng, chúng tôi vỡ òa sung sướng khi ai nấy reo lên: “Tới rồi, tới rồi!”. Phải khoảng một tiếng sau, khi chúng tôi đã tận hưởng cảm giác đứng trên đỉnh núi, bạn mới leo tới nơi. Có lẽ lúc đó, với bạn, mọi mệt nhọc đều tan biến, chỉ còn lại niềm háo hức khi lần đầu tiên được đặt chân lên đỉnh núi cao nhất Việt Nam đúng vào ngày sinh nhật của mình. Và thật đặc biệt, bạn rút từ ba lô phía sau ra một chai rượu vang, dường như đã chuẩn bị sẵn để mừng chiến thắng của chính bản thân mình, và mừng sinh nhật. Trên đỉnh núi ấy, chúng tôi thay nhau check-in với chóp inox, rồi chuyền tay nhau chai rượu vang để chúc mừng sinh nhật người bạn xứ Huế. Chắc chắn đó sẽ là một kỷ niệm không thể nào quên trong cuộc đời bạn.
Tôi đã gặp hai người xứ Huế như thế, và thật lạ là trước khi đặt chân đến Huế, tôi chỉ gặp đúng hai người xứ Huế ấy. Nghị lực trong học tập và trong hành trình chinh phục những đỉnh cao của họ khiến tôi nhớ mãi, thầm cảm phục. Ngoài hình ảnh người con gái áo tím mộng mơ như trong bài hát, còn một chàng trai xứ Huế nữa, mà tôi được nghe kể lại sau khi đã đến Huế, câu chuyện ấy, tôi sẽ nói sau.
Cố đô Huế cách tôi bao xa? Dễ lắm, bởi ngay trước nhà tôi là cột mốc chỉ đường, ghi rõ: Huế - 456km; đó là quãng đường theo quốc lộ 1A từ Bắc vào Nam, cũng là khoảng cách của 8 đến 10 tiếng chạy ô tô liên tục. Thế nhưng, lần đầu tiên tôi đến với Huế lại theo một chiều ngược lại. Tôi cùng hai người bạn chạy xe máy từ Đà Nẵng, qua đèo Hải Vân để đến với Huế. Khi ấy, tôi là một chàng thanh niên độc thân, 28 tuổi, ham “phượt” đến những vùng đất lạ. Có nghĩa là, từ những câu hát ban đầu cho tới khi tôi đặt chân tới Huế cũng đã mười lăm năm. Thế nên, trong tôi là một niềm háo hức được chạm vào Huế.
Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là Hải Vân quan, một cửa ải hiểm yếu trên con đường thiên lý xưa. Khi ấy, Hải Vân quan mới chỉ là một tòa tháp gạch cũ loang màu thời gian, với lớp rêu xanh nâu bám trên những viên gạch cũ. Nhìn xuống bên dưới là con đường đèo quanh co và những hàng quán lụp xụp bán nước cho khách dừng chân, nơi giao nhau giữa xứ Quảng và xứ Huế. Con đèo khúc khuỷu, cheo leo như thế thì khó tránh khỏi những tai nạn đau lòng. Nhắc đến đèo Hải Vân, tôi lại nhớ tới… những khối gió mùa Đông Bắc từ cao áp Siberia tràn về qua những bản tin dự báo thời tiết. Điều gì lặp đi lặp lại nhiều lần thì trở nên quen thuộc: rằng đèo Hải Vân chắn gió mùa, nên cái lạnh mùa đông hiếm khi vươn tới được Đà Nẵng. Vì thế, thời tiết trước và sau đèo khác biệt rõ rệt. Từ trên đèo Hải Vân nhìn về phía Huế là một dải non xanh thăm thẳm; bên dưới là vịnh Lăng Cô với bãi cát dài uốn cong. Cung đường sắt chạy qua vịnh được cho là một trong những cung đường đẹp nhất thế giới. Tôi thật may mắn khi vừa dừng lại giữa lưng chừng đèo thì bắt gặp đoàn tàu Bắc Nam chạy qua. Dang rộng đôi tay giữa đất trời, trước rừng xanh núi thẳm, khi đoàn tàu như một con rồng sắt ầm ầm tiến tới, tôi nhờ bạn giơ máy ảnh lên và ghi lại trọn vẹn khoảnh khắc ấy. Khoảnh khắc tôi được chạm tới những điều đã từng nghe, tại nơi đánh dấu ranh giới phía Nam của xứ Huế.
Chạy thêm chừng hai mươi cây số nữa, người bạn đi cùng, một cô gái xứ Quảng, có người yêu cũ là một chàng trai Huế, bảo tôi nhất định phải ghé một quán ven đầm Lập An. Bạn nói vui rằng vì phải “tháp tùng” anh nên em mới trở lại Huế đấy, chứ từ hồi chia tay chàng trai ấy, em chẳng dám quay lại mảnh đất gây nhiều nhớ thương và cả những vết cắt đến thế. Nếu không vì một vài ngăn trở “rất Huế”, thì có lẽ bây giờ em đã là một nàng dâu xứ Huế rồi. Thôi thì chuyện cũ tạm gác lại, cứ ghé vào một quán ven đầm, đi qua chiếc cầu gỗ chạy dài, ngồi xuống một bàn sát mép nước và thưởng thức những món hải sản đậm đà. Giữa khung cảnh sông nước rộng mở, nơi những con thuyền thả sào nằm yên trên mặt nước phẳng lặng như gương, phản chiếu nền trời, và xa xa là dãy núi cao trùng điệp với những áng mây trắng đội lên đầu, sau một chặng đường dài, được ngồi bên những người bạn thân và thưởng thức đồ ăn tươi ngon ở đầm Lập An, những giây phút ấy thật sự sảng khoái.
Hôm tôi đến là một ngày Huế nắng như đổ lửa. Không biết tháng Năm có phải là lúc Huế thử thách những người khách phương xa, cũng đến từ xứ sở gió Lào hay không, mà sao nóng đến thế. Dù trời oi ả, tôi và bạn vẫn đội nắng rong ruổi khắp nơi, từ những lăng tẩm cổ kính ở vùng ngoại ô, băng qua cầu Trường Tiền, ghé thăm Đại Nội, rồi dừng chân bên chùa Thiên Mụ. Trốn vào bóng râm của ngôi chùa và những hàng cây xanh mát, tôi thầm than thở: “Huế chi mà nóng rứa, Huế ơi!”. Thế nhưng, khi màn đêm buông xuống, Huế lại khoác lên mình vẻ đẹp dịu dàng, mộng mơ. Có lẽ, Huế đẹp và “thơm” nhất khi về đêm. Khi ấy, dòng người tấp nập đổ về các bến thuyền để lắng nghe Ca Huế vang vọng trên những con thuyền trôi lững lờ dọc sông Hương. Làm sao tôi có thể quên buổi chiều hôm ấy, ở một góc Đại Nội, nơi dàn nhạc cùng những ca sĩ trong tà áo dài hồng, đầu đội khăn vấn, cất lên giai điệu của nhã nhạc cung đình.
Tôi phải lòng Huế bởi những món ăn bình dị mà đậm đà hương vị. Chén cơm hến nhỏ xíu, ăn một bát chưa đủ, cứ phải thêm vài ba bát nữa mới thỏa. Nhưng ôi, Huế sao mà cay quá! Tôi chưa quen, cứ xuýt xoa mãi không thôi. Thế nhưng, như một đối lập đầy duyên dáng, Huế cũng ngọt ngào với những món chè tinh tế. Từ chén cơm đến đĩa rau dưa cà, tất cả đều nhỏ nhắn xinh xinh. Một điểm cuốn hút ở Huế, chắc chắn rồi, chính là ẩm thực tinh tế của vùng đất kinh kỳ này. Món bún bò Huế nổi tiếng, bạn dẫn tôi vào một con ngõ nhỏ, ăn ở một quán quen. Bạn bảo, ngày xưa, hồi còn yêu nhau, chàng trai ấy chỉ dẫn bạn đến ăn ở đúng quán này. Ngồi ăn bún bò Huế, nêm thêm chút ớt cay, mà lại nhớ tới người yêu cũ… Tôi thì nhớ hết các thứ trong tô bún gồm những cọng rau nhỏ, nhớ cả nét mặt của cô bán hàng đứng tuổi, đon đả nhìn khách ăn và mỉm cười khi thấy khách tấm tắc khen ngon.
Rồi một buổi chiều trên đất Huế, tôi bắt gặp một vẻ đẹp khiến mình choáng ngợp. Trên con đường rợp bóng những hàng cây cổ thụ dọc bờ sông Hương, một hàng dài những thiếu nữ Huế trong tà áo dài tím thướt tha, dịu dàng sải bước. Khoảnh khắc ấy, hình ảnh ấy cứ vấn vương mãi trong lòng tôi đến tận bây giờ. Tôi chợt nhớ tới những cô nữ sinh Đồng Khánh, nhớ tới một Huế rất riêng trong tiểu thuyết Mùa biển động của Nguyễn Mộng Giác. Huế đã đi qua bao thăng trầm của lịch sử đất nước. Những con người Huế trong Mùa biển động chia thành hai nửa ở những phía đối lập. Tôi không luận bàn đúng sai, nhưng ở họ luôn cháy lên một tình yêu xứ Huế đến tận cùng. Tôi nghĩ rằng, người Huế, và cả những ai muốn hiểu Huế, nếu có thời gian nên đọc trường thiên tiểu thuyết này, để thấy một Huế đã biến động ra sao, và cũng để yêu xứ Huế nhiều hơn.
Tôi còn gặp những con người mang nặng ân tình với Huế qua văn chương, qua những trang sách tôi từng đọc. Tình yêu ấy càng trở nên đặc biệt hơn với những người vì hoàn cảnh mà buộc phải rời xa Huế. Khi họ có dịp trở lại, với mái đầu đã bạc trắng, nước mắt cứ thế tuôn rơi. Có những cuộc trở về không chỉ là bước chân quay lại một miền đất, mà còn là sự trỗi dậy dữ dội của ký ức, của căn cước đã ngủ quên đâu đó trong sâu thẳm con người. Câu chuyện của nhà văn, họa sỹ Võ Đình mà tôi từng đọc là một trường hợp như thế. Ông rời Huế từ năm mười bảy tuổi, mang theo tuổi trẻ và cả một phần đời chưa kịp gọi tên. Hai mươi bốn năm sau, trong một đêm giao thừa trở về mái nhà xưa, ông đứng giữa sân, nơi từng in dấu những bước chân thơ ấu, và bất chợt vỡ òa. Không phải những giọt nước mắt kìm nén, mà là một cơn lũ ký ức dâng lên. Ông khóc đến khi gục xuống ngay bên chiếu thờ tổ tiên. Điều lạ lùng ở cảm giác sau gần một phần tư thế kỷ xa cách, Huế đối với ông lại không hề xa lạ. Trái lại, nó gần gũi đến mức như chưa từng có một cuộc chia ly nào xảy ra. Mọi thứ dường như vẫn ở đó, nguyên vẹn trong ông, như một lớp trầm tích không bị thời gian xói mòn.
Tôi cứ trở đi trở lại với Huế. Có lần đứng từ tầng cao của khách sạn lặng lẽ ngắm hoàng hôn buông xuống, ánh bạc lấp lánh trên dòng sông Hương. Phía xa xa, cầu Trường Tiền với những nhịp cong mềm mại soi bóng xuống mặt nước, những chiếc ghe lặng lẽ lướt qua hàng dừa xanh. Huế lúc ấy dịu dàng và bình yên đến lạ. Không vội vàng, không ồn ã như những thành phố lớn tôi từng đi qua, Huế cứ nhẹ nhàng mà đi vào lòng người theo một cách rất riêng. Vài năm sau, tôi trở lại Huế, không còn là chàng trai độc thân của thuở nào. Tôi mang theo cả gia đình, bế đứa con nhỏ trên tay, háo hức giới thiệu với mọi người một Huế thật thân thương và gần gũi.
Biển Lăng Cô hôm ấy xanh trong, những bãi cát trắng trải dài dưới hàng dương. Khu nghỉ dưỡng nép mình giữa thiên nhiên, những hàng dừa rợp bóng che mát lối đi, dệt nên những ô sáng tối đan xen đẹp mắt. Gió biển thổi lao xao, mang theo vị mặn mòi của đại dương. Chiều hè giữa tiếng sóng rì rào, tôi thấy lòng mình dịu lại, nhẹ nhàng, khoan thai như chính nhịp sống nơi đây. Biển Lăng Cô đẹp đến nao lòng.
Trong lần trở về này, tôi tìm đến một Huế khác, ẩn mình nơi núi rừng mát lành. Chạy hơn hai mươi cây số trên con đường núi quanh co, tôi đến đỉnh Bạch Mã, nơi những tòa lâu đài bằng đá từ thuở xa xưa vẫn còn đứng đó, lặng lẽ giữa đại ngàn. Để tìm một nơi tránh nóng ở miền nhiệt đới, người Pháp từng đầu tư không ít trên đỉnh Bạch Mã này để mở đường và xây dựng. Thế nhưng, những biến động của lịch sử đã khiến một điểm đến tiềm năng về du lịch bị dang dở. Từ đài quan sát trên cao, tôi thu trọn Huế vào tầm mắt. Huế nhìn từ đây thật khác lạ: đan xen giữa những mái nhà là những mảng xanh ngút ngàn, dòng sông uốn lượn, ánh nắng vàng trải dài như dát mật. Tôi chợt nghĩ, thiên nhiên vẫn ở đó từ bao đời, Bạch Mã sừng sững, sông Hương miên man, chứng kiến Huế đổi thay, phát triển.
Tôi tìm đến một dòng suối mát lạnh ẩn mình trong khu rừng Bạch Mã hoang sơ. Không gian tĩnh lặng, rừng sâu hun hút. Từng bước chậm rãi, tôi tiến xuống, để bàn tay chạm vào làn nước trong vắt. Ngay giây phút ấy, tôi cảm nhận được Huế theo một sự kết nối thẳm sâu.
Dù vậy, trong tôi vẫn còn nỗi mong chờ về một Huế khác. Một Huế mà tôi đã nhiều lần trở lại nhưng vẫn chưa thật sự chạm tới. Đó là Huế của những ngày mưa dầm. Người ta thường hỏi: Huế mùa mưa thì có gì ngóng đợi?, khi những cơn mưa phủ kín khắp nẻo đường, khó có thể đi đâu, làm gì. Nhưng chính trong những cơn mưa ấy, tôi nghĩ, Huế mang một vẻ đẹp rất riêng. Một Huế trong “Mưa trên phố Huế” của nhạc sỹ Minh Kỳ và lời của Tôn Nữ Thụy Khương: “Chiều nay mưa trên phố Huế/ Kiếp giang hồ không bến đợi/ Mà mưa rơi vẫn rơi, rơi hoài cho lòng nhớ ai.” Tôi muốn được nhìn thấy một Huế trầm mặc, thấm đẫm trong những cơn mưa dầm dề. Đâu phải ngẫu nhiên mà các văn nghệ sỹ lại chọn mùa mưa của Huế để sáng tác những lời ca, tiếng hát bất hủ. Có lẽ, chỉ trong những khoảnh khắc ấy, tâm hồn của Cố đô mới hiện ra trọn vẹn. Ai mà không khỏi thao thiết nhớ khi nghe “Diễm xưa” của Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly, với câu mở đầu: “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ”. Tôi còn biết “Diễm xưa” đã được dịch sang tiếng Nhật và được chính Khánh Ly hát ở xứ sở hoa anh đào. Mưa Huế, dường như, không chỉ là mưa, mà đã trở thành một sứ giả văn hóa, mang hồn cốt của thành phố đi xa.
Tôi đã biết mình muốn gì cho lần trở lại Huế tới đây. Tôi muốn được dạo bước dưới mưa Huế trên những con đường trầm mặc, rồi tìm một quán cà phê nhỏ nép mình nơi góc phố. Ngồi đó, tôi sẽ gọi một tách cà phê đen, lặng lẽ nghe “Diễm xưa”, để từng giọt cà phê nhỏ xuống như nhịp thời gian chậm rãi trôi. Và có lẽ, vào khoảnh khắc ấy, tôi mới thực sự chạm vào Huế.
L.N.S
(TCSH61SDB/06-2026)