ĐỖ KIM CUÔNG
Chiếc xe than chết máy bất tử. Nó nằm chềnh ềnh giữa đường như một con lợn đã bị chọc huyết. Không thể nào chịu nổi với cái nắng tháng bảy hun người, từ lúc biết chắc còn lâu cái xe mới được mở máy trở lại, đám hành khách đã tự động tản ra tìm những gốc cây, bờ cỏ lau rậm rạp để trốn nắng. Có vài người khách sốt ruột, chờ được một lúc đã trở lại xe nhặt ba lô, túi vải, đeo gùi cuốc bộ để đi cho sớm.
Số còn lại đông hơn, là cán bộ công nhân lâm trường, các bà buôn hàng chuyến về A Lưới, không thể bỏ hàng bỏ xe đấy mà đi đành ngồi chờ. Chờ đến bao giờ, không ai biết! Hai tiếng đồng hồ trôi qua, thầy trò nhà xe đã mở tung nắp ca-bin, chui gầm hì hục chữa máy nhưng vẫn chưa có một dấu hiệu nào chứng tỏ cái xe sẽ nổ máy trở lại.
Tôi là một trong số những người khách kiên nhẫn chờ đợi, giải trí bằng cách đập ruồi thả cho bầy kiến vàng cắn đuôi nhau tha về tổ. Nắng đã rát lưng. Không thể chịu đựng được nữa, tôi theo con đường mòn nhỏ chạy lẩn giữa những vạt đồi tranh tìm khe nước. Từ lúc ngồi cạnh đàn kiến vàng tôi đã nghe đâu đó tiếng nước chảy róc rách. Đã lâu quá rồi tôi mới trở lại vùng này. Con đường 12 vẫn như thuở tôi còn là một anh lính bộ binh K10, trập trùng những đồi cỏ tranh, vào sâu hàng trăm mét mới tới bìa rừng. Đây đó bắt gặp những thân cây khô đứng chơ chỏng cháy đen. Con đường đá chạy từ ngã ba Tuần lên đây, mưa nắng và những cơn lũ làm cho nham nhở khô gầy, nhiều đoạn lớp nhựa cũ bị lột đi trơ ra những ổ gà. Tôi đã cố hình dung lại tuyến giao liên cũ từ ngã ba Hương Trà qua đây. Đâu là cái "cống ngầm" xưa kia tôi đã từng chui qua vượt đường vào lúc chạng vạng tối? Hoặc giả những con đường mòn ấy đã chết! Cũng có thể trí nhớ kém cỏi của tôi cố tình lãng quên. Nhưng tôi biết, đất trời ở đây vẫn vậy. Những cơn gió tây tràn qua kéo cho đám cỏ tranh đổ rạp. Thoảng lại mùi cao su cháy, cây cháy, tàn than vương vất khắp mọi nơi.
Tôi gặp con suối đá ở cách trục đường 2 chừng hơn trăm mét, sát với bìa rừng. Từ đây vẫn nhìn thấy cái xe đò đứng chơ vơ phơi nắng. Khoảng suối vắng bóng người, âm thanh duy nhất vọng lên khuấy đảo không khí tĩnh lặng trong rừng là tiếng con chim gõ kiến mổ lộc cộc vào thân cây khô. Không chậm trễ lấy một phút, tôi trút bộ quần áo đỏ bụi đường nhảy ào xuống vụng nước sâu ngang rốn. Sau một hơi lặn dài, tôi trồi lên mặt nước với một cảm giác sảng khoái. Chính lúc ấy, tôi bắt gặp cái nhìn nửa như thăm dò, nửa ngạc nhiên của một người đàn ông, anh ta đeo gùi, tay chân mặt mũi đen nhẻm. Chiếc áo bộ đội và chiếc quần đùi màu cứt ngựa cũng lem nhem dính than. Sau lưng là chiếc gùi chồi lên cán rựa và những cọng rau lang.
Người đàn ông nhìn tôi chừng mươi giây, rồi rảo bước theo con đường mòn chạy dọc ven suối. Nhưng tôi thì lại bị cái nhìn đóng đinh câu rút. Ai nhỉ? Ánh mắt quá ư quen thuộc. Và tôi bỗng vọt lên khỏi con suối, mặc nguyên "bộ quần áo của Hoàng đế", tồng ngồng đâm bổ vào rừng theo dấu chân người đàn ông xa lạ.
* * *
Người ấy chính là Tâm - đại đội phó của tôi hơn 20 năm trước. Ngày ấy, tôi mới 18 tuổi, liên lạc viên đại đội. Là một anh lính binh nhì, tôi không hiểu gì nhiều lắm về cái thế trận khốc liệt giữa ta và địch của những năm "sau Mậu Thân". Suốt ngày theo ban chỉ huy lo việc chống càn, đi chốt gác, bám địch. Và đêm xuống, ở các cửa rừng không bị địch chốt giữ, từng tốp nhỏ phối hợp cùng lực lượng du kích địa phương đột về các ấp mua gạo, muối, đậu phộng. Các trận đánh lẻ xảy ra liên miên, đại đội cụt vốn dần. Mỗi lần mất một vài đứa hy sinh, bị thương. Gọi là đại đội cho oai, kỳ thực có 3 trung đội. Mỗi trung đội từ 12 đến 15 tay súng. Chạy ăn không nổi, có khi cả tháng trời lính ăn theo tiêu chuẩn 1 lon gạo (0,25kg) một ngày. Có ngày nửa lon và không lon. Canh môn vóc, môn nước cầm hơi. Đại đội được Ban chỉ huy tiểu đoàn giao nhiệm vụ ở lại phía Nam sông Bồ "bám đất, bám dân".
Mùa đông năm 1970. Những người lính còn sống sót của đại đội 3 nhận thêm nhiệm vụ mới: bổ sung về các xã làm lính biệt động. Cán bộ chỉ huy trực tiếp làm đội trưởng từng toán quân nhỏ lẻ... Tâm là một trong số ít cán bộ chống lệnh về xã.
Thực tình khi còn là một liên lạc viên đại đội, tôi không ưa Tâm. Anh ta nhác, nhưng có cái mác chuẩn úy - đảng viên, đội trưởng sản xuất một hợp tác xã nông nghiệp, nhập ngũ 1966, rồi đi học trường quân chính. Cuộc chiến hút theo, chiến dịch Mậu Thân giữ chân Tâm ở lại chiến trường sau một chuyến đưa quân. Cuối năm 1969, Tâm mới được đề bạt làm cán bộ đại đội phó. Nhưng từ khi còn là một B trưởng, Tâm đã nổi tiếng là tay keo kiệt. Mỗi lần một chiến sĩ nào "vi phạm" Tâm lên giọng "Mác-xít" chì chiết cho phải biết. Mà một người lính ở vùng ranh thiếu gì những lý do để vi phạm luật. Này nhé: vô ý làm động cái xoong, để vương khói khi nấu bếp, một cái ho vô cớ giữa lúc địch đóng quân ở gần... Và cũng chính là tôi, một lần đã túm ngực áo Tâm thét vào mặt anh ta: "Anh... Anh là thằng giết người! Đồ vô trách nhiệm".
Tôi đã nhận ở Tâm một cái tát. Lòng phẫn uất ở tôi không ghìm lại được, khi biết Tâm dẫn độ một tốp tải thương, bệnh binh lên địa đạo Khe Trái đã để lạc mất thằng Thắng - bạn học với tôi, sống chung trong đại đội 3. Thắng mất tích, hay bị địch bắt, hổ vồ, hay bị cơn sốt rét hành hạ nằm lại ở đâu đó trong rừng? Tâm đã không hoàn thành nhiệm vụ của một cán bộ chỉ huy. Nhưng với cái chết của một người lính ngày ấy, người ta dễ dàng bỏ qua. Những trận đánh và những cái chết cứ chồng lên nhau ở chiến trường khốc liệt. Và cả cái đói nữa... Tôi ghét Tâm từ đó. Tôi dửng dưng khi nghe tin anh ta bị huyện ủy khai trừ ra khỏi Đảng, tước danh hiệu sĩ quan. Và thậm chí còn có ý khinh bỉ cho một tay lính đào ngũ, chạy dài.
Tâm bị điều về trại sản xuất hang Đá.
Bẵng đi một thời gian, tôi nghe tin Tâm tằng tịu với cô Nguyệt - một trại viên trại sản xuất. Tôi càng xem thường anh ta hơn khi biết anh đã chấp nhận lấy Nguyệt làm vợ. Hành tung của Nguyệt cũng chẳng đẹp đẽ gì. Một tên "tề điệp" bị du kích bắt lên rừng đưa đi cải tạo (!). Trước khi kết thúc chiến tranh, một đôi lần tôi dẫn quân đi ngang qua khu rẫy của anh Tâm có dừng lại nghỉ đêm. Gặp được tôi, một thằng lính C3 cũ, anh có vẻ mừng nhưng không khỏi giấu giếm chút ngượng ngập. Anh tự tay bắt gà nấu cháo mời tôi. Sai vợ ra rẫy nhổ sắn, bẻ bắp về đãi lính. Hẳn thời con gái, chị Nguyệt phải là người đẹp ở đất Nham Biều. Bây giờ tuổi đã gần 30, sống kham khổ trên rừng, tật bệnh nhưng nước da chị vẫn mịn màng, hồng hào. Họ sống trong một căn nhà hầm nằm chìm dưới đất. Đêm ngủ trong hầm kèo tránh pháo. Ngồi chuyện trò, ăn cháo, hút thuốc lá với Tâm, năm tháng đã nguôi ngoai về cái chết của Thắng, song tôi vẫn không thể nào xua đuổi được ý nghĩ: Tâm là một kẻ tội lỗi. Có thể do tôi quá yêu Thắng. Hoặc giả ý thức của một người lính trong tôi không chấp nhận sự đầu hàng, thoái lui. Và cũng có thể vì tiếng cười rúc rích của người đàn bà trong căn hầm kèo?
* * *
- Ngày xưa chúng mày khinh tao! Tao hiểu điều đó lắm chứ... Anh Tâm khẽ nhếch mép cười, bảo tôi.
Đã qua tuần trà thứ hai. Nhưng tôi vẫn chưa dứt bỏ được cái mùi béo ngậy của món thịt luộc nấu giả cầy còn đọng lại nơi cổ. Giờ đây, tôi đã ngồi trong ngôi nhà của vợ chồng anh ở sâu trong rừng. Và nếu không có anh nhắc, không thể nào tôi nhận ra chính chỗ này là hậu cứ cũ của trung đội 3 ngày trước, nằm gần ngã ba Hương Trà. Chẳng biết tự khi nào, thuê máy cày, máy ủi ra sao, vợ chồng Tâm đã khai hoang hàng chục héc-ta đất đồi bên suối. Chỗ thì cấy lúa, chỗ dùng làm vườn, trồng rau, trồng cây ăn trái và một mảng đồi khác đã phủ xanh bạch đàn. Ngoài công việc đồng áng, Tâm còn đốt than gánh ra ngoài đường 12 bán cho cánh lái xe khách...
- Chúng mày khinh tao là phải! Ông Hồng, ông Để mạt sát tao hết lời. Còn ông Bậu, tiểu đoàn trưởng thì chửi tao là đồ con chó. Tao "chó thật"! Anh Tâm nói câu ấy, không nhìn tôi. Tay cầm chén trà hơi run nhẹ.
Rồi anh bảo:
- Tao nhục! Nhưng đầu óc tao lúc ấy bị mê muội khiếp sợ cái chết. Chết đói, chết sốt rét. Chết đánh nhau. Sục đi Bồn Trí, Bồn Phổ, Phú Ô, Văn Xá để kiếm gạo đều vấp địch. Thử hỏi có thằng lính nào không khinh?
Suýt nữa, tôi buột miệng: "- Nhưng không phải mọi người lính đại đội 3 đều đào tẩu". Nhưng nhìn vẻ mặt xúc động của anh, tôi nín thinh, không nỡ...
- Chính vì còn biết xấu hổ với tụi bay, nên tao đã không muốn trốn khỏi trại sản xuất, vượt về tuyến sau ra Bắc. Nếu muốn Bắc tẩu tao có ối cách để chuồn... Những ngày tao đi phát cây làm rẫy, trồng sắn, gùi gạo... tao mới thật sự thấm thía cho hành vi hèn nhát của mình. Tao không giận tụi bay, không giận cả ông Để, ông Bậu. Chỉ giận thằng tao chó quá! Tưởng có lúc đâm đầu xuống khe Trăng hay cho một phát súng vào đầu là xong. Nguyệt đã cứu tao thoát ra khỏi cơn tuyệt vọng ấy.
Chợt anh Tâm nhìn tôi, hơi nheo mắt:
- Tao nghe hết lời đàm tiếu của chúng mày và mấy đứa con gái huyện đội Hương Trà về chuyện của tao và Nguyệt. Tao yêu cô ấy. Nguyệt có là gì đi chăng nữa - cô ấy vẫn là người đàn bà... Một người đàn bà cô đơn, mi hiểu chưa?
Anh Tâm bỗng cao giọng, khiến cho tôi bật cười, nhớ lại dáng điệu của anh thuyết lính thuở nào.
- Cô ấy là một người đàn bà khốn khổ! Anh Tâm nói thêm, giọng rầu rĩ, đau đớn - Thiệt tiếc bữa nay cô ấy về làng có chút công chuyện. Nguyệt gặp được mi hẳn là mừng lắm.
Ngả lưng trên tấm võng mắc vào hai cây cột, tôi vừa nghe chuyện vừa nhìn lên mái cọ. Tâm dựng ngôi nhà hệt như những ngôi nhà ở vùng quê miền Trung, có nhiều cột kèo, mái thấp, căn nhà thùng gỗ ván được chia ra thành nhiều ô nhỏ. Có tủ thờ, tủ đứng, bộ bàn ghế gỗ. Tay thợ đóng khéo. Gian bếp ăn thông với một đầu hồi. Qua một vạt sân đất nện trông ra mảnh vườn trồng toàn hoa huệ, lay-dơn chưa đến kỳ trổ bông. Nhác trông qua tôi biết ngay, chị Nguyệt đã mang lên đất rừng cái nghề trồng hoa ở Hương Mai. Ngày trước mỗi lần về làng, tôi đã nhiều phen nằm bẹp giữa những ruộng hoa bạt ngàn huệ ấy, ngây ngất vì mùi hương thơm vẫn phải căng mắt quan sát địch.
- Hoa trồng ở đây bán cho ai? Sao anh không về quê? Tôi hỏi anh Tâm.
- Về Thủy Nguyên à? Anh Tâm hơi nhăn trán. Gương mặt anh tối lại, tôi thấy anh già đi cả chục tuổi. Tao đã chịu tiếng là một thằng đào ngũ. Tiếng xấu bay về tận làng, về làm chi cho nhục. Còn về lại Hương Mai, Nguyệt không muốn, cả tao cũng rứa. Ông Bậu bữa ni làm huyện đội trưởng... Chi bằng tao ở lại với rừng... Anh nhìn tôi nheo mắt, tặc lưỡi - Ở mô cũng phải mần ăn, làm lụng. Tao đã quen với từng con đường mòn nhỏ trong rừng Hương Trà. Tụi bay về xuôi, rồi mất hút. Còn tao... tao vẫn thỉnh thoảng lên Khe Trái, sông Bồ đánh cá, chặt song mây đem ra đường bán về xuôi. Lâu lâu tao chui vào địa đạo đào ít dây điện cũ, lượm cây gỗ hầm đốt than, làm củi. Tao sống nhờ rừng... Tao nói điều này, có thể mày không tin. Tùy mày! Nhưng với tao lại là cần thiết. Mỗi lần vào rừng, khoác khẩu súng cạc-bin lên vai, đeo lại cái gùi bạt, gặp một cảnh rừng quen, một khu hậu cứ cũ đã cả chục năm trời bỏ hoang... hầm hào đều sụp cả, bắt gặp những viên đá còn nhám đen xưa kia kê bếp... Như thế, tao đang được chuyện trò cùng với những ông Hồng, ông Để, thằng Toan, thằng Đồng, thằng Khanh, thằng Nghi, thằng Thắng... Mày có nhớ đêm ở suối Cát? Buổi sáng, đại đội lộ bị địch tập kích vào căn cứ Đồi Chổi, chạy về trụ lại ở suối Cát. Đêm ấy mày mắc võng ngủ cạnh ông Để ở trên sàn. Còn tao với thằng Dần ngủ trong hầm. Nửa đêm tưởng chúng mày đã ngủ say, tao với thằng Dần dậy nấu cơm ăn, trong lúc tụi bay ôm bụng đói. Lúc đó, cái thằng tao sao chó má đến như vậy không biết nữa.
Tôi nhìn anh Tâm qua màn khói thuốc lá để ghi nhận sự tự thú muộn màng của anh. Tự dưng tôi thấy thương hại. Vào năm "chín mươi" này, cái sổ gạo đã được "đưa vào viện bảo tàng quốc gia". Nếu một ai đó "cá độ" rằng: có người sẽ ăn hết một bữa 7 lạng gạo với muối trộn mì chính và còn thêm 1 bánh lương khô một phần tư ký nữa, đám thanh niên mặc áo phông quần bò sẽ cho là bịa. Thì ngày ấy, đã là chuyện từng xảy ra với một người lính đói. Thủ phó Tâm của tôi đã thắng độ.
Vả chăng còn một chuyện này nữa...
Vâng, thưa bạn đọc quý mến! Câu chuyện chót của người đốt than kể cho tôi nghe trong cái buổi chiều hôm ấy, sẽ không có trong đoạn kết của lịch sử truyền thống của tiểu đoàn 10 - gọi đúng theo mật danh cũ là K.10. Chính là việc suốt hàng chục năm sống trong khu rừng già bên đường 12, Tâm và chị Nguyệt đã bỏ công bỏ sức đi tìm lại những khu mộ chiến sĩ của đại đội 3, đại đội 4 đang nằm lẩn khuất trong rừng. Vì nhiều lý do, từ sau ngày giải phóng, các đội làm công tác thương binh liệt sĩ chưa có điều kiện tìm ra cho hết. Lâu lâu, anh Tâm lại tìm thấy một vài cái mộ. Cái có tên (khắc trên những tấm vỏ thùng sắt tây), cái không tên. Nhưng đều là những chiến sĩ, cán bộ của K.10. Anh thu gom lại đưa về chôn ở vạt rẫy gần nhà, rồi báo cho tỉnh lên nhận.
- Tao chưa quên được câu chửi của mi đâu, Công ạ. Bữa tao bỏ lạc thằng Thắng trong rừng. Lúc ấy tao giận mi vì ngượng với ông Để. Tao chịu sao nổi khi một thằng liên lạc đại đội sỉ nhục một cán bộ chỉ huy? Nhưng chính cái hành vi vô trách nhiệm của tao, để mất thằng Thắng đã dày vò tao sau cái lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng Nguyệt đẻ cho tao một đứa con trai, rồi bị bệnh tật cướp mất. Tao thấm thía nỗi đau đớn của một người cha mất con. Nhiều năm tao đã lần trở lại con đường giao liên dẫn lên sông Bồ ngày trước. Chui lủi trong những vạt rừng dày đặc mây giang, lội ngược dòng những con suối mọc toàn dứa dại. Có bận tao mang cơm đùm cơm vắt đi cả tuần lễ.
- Anh tìm thấy Thắng? Tôi bồn chồn không yên.
- Không thấy nó... nhưng lượm được một khẩu AK han gỉ, báng đã mục. Và cái này... may ra sẽ giúp ích cho mi.
Anh Tâm đứng dậy đi mở tủ. Anh lục tìm một hồi lâu rồi chìa ra trước mặt tôi một mảng giấy không còn nguyên vẹn. Tấm giấy đã úa vàng. Và ngay đến màu mực Cửu Long cũng đã nhạt màu. Vài dòng chữ còn lại tôi có thể đọc được là: "... Mong Thắng đừng quên những kỷ niệm của lớp 10A chúng mình. Những ngày sống đẹp đẽ ở Thắng Cựu và cả cái đêm các bạn bị cháy nhà kho hợp tác. Mình với Thủy chỉ lo các bạn bị Công an tới bắt... Ôi, kỷ niệm của tuổi ấu thơ bao giờ cũng đẹp phải không Thắng? Hoàng Châu Thi".
Phải, Thi cũng đã viết tặng tôi y hệt như vậy trong cuốn sổ lưu niệm ngày lên đường vào bộ đội. Thi đã chết rồi, trên con sông Cầu Đen. Còn Thắng... Tôi chỉ là một chứng nhân cho những cuộc chia lìa. Tôi giấu những giọt nước mắt bằng cách bước ra ngoài sân bắt gặp một bầu trời đang sạm lại. Những tảng mây mọng nước vần vũ trên đầu. Tiếng sấm vang rền hệt như tiếng bom đâu đó ở ngả Khe Trái, sông Bồ...
1993
Đ.K.C
(TCSH63/05-1994)