LÊ ĐẠT
Đường nắng cánh sen đèn hội má
Vườn mầu hoa con gái bướm phù dâu
Van Gốc vẽ miệt mài không ngơi tay. Ông cảm giác đang bơi trên một dòng sông nước xiết, ngừng lại sẽ chìm nghỉm, vĩnh viễn nằm dưới đáy tối.
Những quệt màu bùng bùng cháy trên mặt toan như những tia nham thạch miệng một hỏa diệm sơn phun lửa.
Liệu mầu sắc có dẫn ông tới thế giới mong đợi, nơi không còn Gôganh, người bạn tri kỷ đã phản bội ông. "Ngày mai tôi sẽ trở về Pari..." Gôganh hạ những chữ tàn nhẫn như lưỡi dao một đao phủ.
"Sao cậu hứa ở với mình hết mùa xuân. Mình van cậu, đừng đi, cậu đi, mình ở đây với ai? Đừng đi, Gôganh... ở lại, ở lại dù một tháng, dù một tuần... Cậu không biết mình cô đơn thế nào? Mình cần cậu thế nào?" Gôganh gạt tay bạn dứt khoát bước ra cửa.
"Thằng phản bội, tao sẽ giết mày!
Ánh nắng Prôvăngxơ lấp lóa trên lưỡi dao cạo dài. Van Gốc vừa chạy vừa thét.
Gôganh từ từ quay lại, lừng lững, dọa nạt như một pho tượng ăn thịt người trong những tà giáo phương Đông. Hai mắt hắn cháy đỏ như lửa địa ngục... Lạy Chúa! Nó trở thành ma quỷ rồi. Van Gốc đứng sững. Bóng Gôganh xa dần trên con đường chói nắng...
Gôganh! Quay trở lại! Đừng đi, đừng đi... Trong một cơn tuyệt vọng, Van Gốc lấy dao cạo cắt luôn tai mình...
Vẽ, vẽ đi, chỉ ngừng một giây là những hình ảnh ma quái lại ùa về rồn rập dọa nạt. Van Gốc bóp mạnh những tuýp mầu chảy tràn cả xuống đất...Vẽ... vẽ... Không thì điên, không thì chết. Chỉ mầu sắc may ra có thể cứu được Van Gốc giây phút hoạn nạn này.
Quệt mầu da cam hơn hớn chạy trên toan vẽ, thách thức ánh nắng đang chứa chan vào xuân... Những bông hoa mào gà chói đỏ. Đâu như có lần một người bạn nào đó cho Van Gốc biết các nhà thơ Đường bên Trung Quốc từng gọi loại hoa này là mỹ nhân thảo... Óc tưởng tượng các nhà thơ Tàu thật tuyệt vời!
Những thân cây mào gà mảnh mai mới quyến rũ mới đàn bà làm sao! Ước gì Van Gốc được ngụp lặn trong đó, vĩnh viễn ở đó, không bao giờ trở về nữa.
Ông cầu xin mầu sắc dẫn đường. Liệu chúng có dẫn ông như một người bạn đồng hành trung thành tới một ga hẻo lánh của rực rỡ, của thơ nhỏ, nơi có một người yêu ông thật lòng. (Ôi, người đó cũng chẳng cần đẹp lắm). Người đó đừng phản bội ông như Gôganh, đừng xua đuổi ông như cô gái nước Anh kiêu kỳ...
Nhưng mầu sắc vẫn chưa đến...Van Gốc hành hạ những tuýp vẽ. Mầu ộc trên palét đỏ như vũng máu tươi. Ông đằm bút trong vũng mầu, quệt máu lên mặt toan. Ông hối hả, cuống quít, tưởng như không còn chủ động được nữa. Mầu sắc kéo tay ông vào cuộc mầu hoang dại cuồng nhiệt. Van Gốc chạy theo hổn hển muốn đứt hơi.
Cánh đồng hoa mỹ nhân hiện dần trên mặt toan day dứt kỳ lạ, tưởng chừng như Van Gốc không vẽ phong cảnh bên ngoài mà mải mê phong cảnh tâm hồn mình, những mầu sắc tự sự cả một tuổi hoa niên đã qua, chồng chất những vệt đời, những khao khát, những ấp ủ chết yểu. Những tầng mầu bồi lên nhau những tầng kỷ niệm.
Van Gốc bỗng nghe có tiếng hát. Cánh đồng vắng tuyệt không bóng người.
Thì ra những hoà sắc da cam, các-min, xanh cô ban đang hát. Một bài hát xa vời và an lành như một bài thánh ca.
Van Gốc mỉm cười. Một cơn gió nhẹ thổi. Mặt ông bỗng thư giãn, bình yên lạ lùng. Cơn điên đã đi qua. Ave Maria!
*
Van Gốc thanh thản bước vào tiệm cà phê quen. Một người cao lớn bỗng xồ ra giang tay chặn cửa. Sao Gôganh lại ở đây? Sao đi đâu ông cũng không thoát nổi hắn?
- Ông đi ra ngay, không tôi gọi đội xếp.
Một giọng phụ nữ từ phía sau:
- Ô hay Giăng! sao con lại làm thế?
Một bà đứng tuổi trong quầy hàng chạy ra đon đả:
- Mời ông vào.
Thì ra đó không phải Gôganh mà là Giăng, con bà chủ tiệm cà phê, Xêlextin. Bà đẩy người con trai lực lưỡng và càu nhàu sang một bên lấy lối cho Van Gốc.
Đã hơn một năm nay từ ngày tới thị trấn Aclờ hầu như ngày nào Van Gốc cũng có mặt ở tiệm cà phê này.
Ông chọn một bàn vắng trong góc tối, nơi ông có thể buồn một mình, không sợ ai quấy rối. Chao ôi! buồn chỗ đông người dẫu sao cũng vui hơn buồn gác trọ hiu quạnh. Ông ngồi hàng giờ trước ly rượu ngải... nghĩ đến cuộc đời bị hắt hủi. Ngay từ khi lọt lòng... Tên Vanhxăng Van Gốc bố mẹ đặt cho là tên người anh bất hạnh vừa mở mắt nhìn ánh sáng đã vĩnh viễn nhắm lại vào cõi đêm bất tận... Nhiều buổi trưa Vanhxăng quanh quẩn bên mộ anh, cúi đầu trên tấm bia chữ khắc đậm nét "Ở đây yên nghỉ Vanhxăng Van Gốc". Và bỗng tự hỏi "Vanhxăng dưới mồ và Vanhxăng bên mồ, ai là Vanhxăng thật?"
Cỏ xanh lay động dưới bóng cây trắc bá lá khẽ reo hát. Vanhxăng sống bỗng thèm Vanhxăng chết. "Ở dưới đó chắc bình yên”.
*
Người ta thường chê Van Gốc hay lui tới đám gái chơi rẻ tiền, và buộc tội ông có những thích thú bệnh tật. Ngay Têô, người em ruột thương anh hết lòng cũng hơn một lần thắc mắc "Thiếu gì người mà anh cứ phải lui tới những nơi đó?"...
Vanhxăng cười một mình chua chát. Đúng, thiếu gì người... Nhưng vấn đề là người ta có thương mình không? Những Ursula, những Ket, những cô gái dịu dàng con nhà tử tế đều khước từ một cách quyết liệt tình yêu chân thật của chàng trai rụt rè.
"Không... không đời nào tôi thèm yêu anh!"
Chỉ có những cô gái chơi bất hạnh, xấu xí (Vanhxăng cũng không dám mon men những cô gái chơi ít nhiều có nhan sắc) là không xua đuổi ông. Không ai hiểu rằng Vanhxăng thèm yêu và thấp thỏm bị hắt hủi đến mức nào!
Người thiếu phụ đầu tiên chấp nhận tình yêu của ông là Clasina, một gái điếm mặt rỗ, cao lớn, tàn tạ. Nhưng vào lúc tàn canh chợt tỉnh trong bóng tranh tối tranh sáng thấy một thân thể đàn bà, dù người đó có đui què, nằm bên còn hơn là thức giấc cô đơn giữa cái trống lạnh mênh mông của chiếc nệm giường trắng như tấm vải liệm.
Ông bỗng nhớ tới cảnh La Hay, một thành phố ẩm ướt, một vòm trời ám khói thấp tè trên những quán bia ồn ào. Đường phố ngổn ngang những thủy thủ say rượu vừa chuệnh choạng đi vừa hát. Ôi! Cái tiếng hát người say nghe buồn đến đứt ruột. Và những bóng người dạng chân đứng đái gốc cột đèn vắng để giải thoát những vại bia nốc vô tội vạ và những khối sầu mãn tính. Xa xa là biển và những hồi còi ú ớ thảm thiết với tiếng xích tàu sóng vỗ loảng xoảng một đoàn năm tháng khổ sai.
Nhưng đây cũng là nơi đầu tiên Van Gốc được yêu. Clasina là một gái điếm nghèo. Căn nhà nhỏ bé, trống trơn. Nàng có hai đứa con nhỏ. Lúc mẹ tiếp khách, đứa chị dắt đứa em ra bãi rác nhặt những chai bia, những đồ hộp, những con búp bê cụt đầu hay què chân xây dựng những thiên đường tưởng tượng dỗ em. Những hôm trời mưa, hai chị em tha thẩn chơi dưới bức tranh Đức Mẹ Đồng trinh ố bụi, bức tranh độc nhất trong ngôi nhà. Cạnh những tiếng chửi thề ầm ĩ, những âm thanh tục tĩu từ phía sau tấm rèm...
Clasina là một thiếu phụ kỳ lạ. Hình như bất cứ người nào dám sống thành thật đều kỳ lạ. Cô uống rượu như một chiếc thùng không đáy... Hay nói theo kiểu cô: uống rượu như một chiếc váy. Cô đã từng đọ cốc với những tay nhậu lỳ lợm nhất. Và hát những bài hát có thể làm đỏ tai các bà xơ. Đã có lần Van Gốc chứng kiến tận mắt cảnh Clasina trừng phạt một thủy thủ quịt tiền. Tên thủy thủ cao lớn đã bị Clasina đấm ngã và lột trần, chỉ còn chiếc xì líp, lảo đảo chạy trên con đường tuyết.
- Cái đồ đàn ông đ. quịt lẽ ra phải thiến cho tiệt giống!
Cũng chính cái người thiếu phụ ghê gớm ấy...
Van Gốc vẫn còn nhớ... Ông đang lang thang trên bờ biển bẩn thỉu, bơ vơ như một vỏ ốc luân lạc. Không biết nghĩ thế nào ông bước xuống biển lẳng lặng lội về phía ngọn hải đăng chói sáng như một vùng đất hẹn, một quyến rũ... Bỗng nghe có tiếng chân lội bì bõm phía sau và tiếng gọi thất thanh:
- Anh Vanhxăng... anh Vanhxăng!...
Van Gốc chưa kịp quay đầu lại thì đã thấy Clasina nắm chặt lấy tay:
- Anh điên à, đi đâu ra đây?... Khổ... em tìm anh suốt,... sao đến một tuần rồi anh không tới.
Van Gốc lắp bắp:
- Tôi không có tiền.
Ông bỗng thấy Clasina lùi lại, hai mắt trợn đỏ, tay nắm chặt như muốn đấm cho ông một quả. Van Gốc bất giác lấy tay che mặt. Chỉ thấy Clasina thở dài rồi lầm lì nắm lấy tay ông xềnh xệch lôi đi như người mẹ lôi đứa con hư về nhà đánh đòn.
- Khổ, chân anh lạnh thế này thì đến ốm mất.
Clasina quỳ xuống, hai tay ôm lấy chân ông ủ ấm, áp má vào đó, giọng bé bỏng như muốn khóc:
- Anh có biết em cần anh đến thế nào không?
Rồi nàng bế Van Gốc lên lòng. Người thanh niên rét lạnh như một hài đồng bị cai sữa quá sớm rúc đầu vào bộ ngực đồ sộ, nhầu nát của người gái chơi, ngủ lúc nào không biết...
Ru hời hỡi ru... Trong giấc ngủ đung đưa, hình như ông nghe thấy tiếng ru của mẹ.
Sau buổi đó Van Gốc vẽ chân dung Clasina trong bức ký họa được đời sau biết tới dưới tiêu đề "Sầu". Clasina đã ôm lấy bức tranh nức nở. Lần đầu Van Gốc thấy nàng khóc xối xả như vậy. Và cứ để nước mắt ràn rụa, Clasina nghẹn ngào úp mặt vào tay Van Gốc:
"Sao anh lại biết em thời con gái?"
*
Nước mắt Van Gốc ứa ra lúc nào không biết, lặng lẽ rơi vào ly rượu ngải đắng. Van Gốc lén lút lau nước mắt như một kẻ gian. Nhìn dòng nước mắt lăn trên gò má gầy người trẻ tuổi, bà chủ quán khẽ chép miệng: "Hẳn con người này phải đau khổ lắm mới đến tiệm cà phê khóc một mình."
Từ ngày Van Gốc giết hụt Gôganh, cả cái thị trấn bé nhỏ này không còn dung được ông nữa. "Một thằng điên như vậy không nhốt nó lại còn đợi đến bao giờ?"
Và hai vợ chồng Giăng con trai bà cà phê đã hơn một lần định cấm cửa "thằng điên".
- Nó chỉ đem xúi quẩy vào nhà mình chứ béo bở gì? Lại còn uống chịu nữa!
Nhưng bà Xêlextin đã có một thái độ kiên quyết không ngờ:
- Ngày nào tôi còn làm chủ tiệm cà phê này thì không một người khách nào bước chân vào đây bị xua đuổi.
Nhìn mặt tường lâu ngày bẩn bụi, ám khói, bà lẩm bẩm:
- Nghe nói anh ta làm thợ vẽ, không biết có quét vôi được không?
*
Thị trấn ngày càng khó sống đối với Van Gốc. Ông nhận được nhiều thư đe dọa và đã mấy lần bị đám trẻ con ném đá. Nhà hội họa quyết định rời bỏ Áclờ.
Không một sợi dây tình cảm nào níu chân Van Gốc lại đây. Cô gái điếm Rasen khi Van Gốc trân trọng đem đến tặng vành tai bê bết máu phong bao trong một mảnh giấy điều đã thét lên ù té chạy và từ ngày đó đã vĩnh viễn xa lánh ông.
À còn bà Xêlextin. Bà đã cư xử nhân đạo với ông, hơn nữa ông còn nợ tiền rượu của quán. Van Gốc không muốn bỏ đi như một thằng ăn quịt. Nhưng trả nợ thì phải có tiền mà Van Gốc lần cả túi trong túi ngoài chỉ còn đúng có năm mươi xu. Ông đành đem bức tranh Cánh đồng hoa mào gà đến gán nợ.
Nhìn bức tranh sù sì đến gớm ghiếc, bà Xêlextin không muốn nhận nhưng bà không đành phật lòng người bất hạnh. Người đàn bà tốt bụng đưa cho Van Gốc mười quan và chúc ông lên đường may mắn.
*
Bức tranh của Van Gốc được treo ở một chỗ khuất che một khoảng tường lở vôi. Và bức tranh sẽ yên sống cuộc đời bụi bặm của nó nếu một bữa kia, một cơn gió chướng không bất thình lình thổi rơi chiếc đèn dìm cả tiệm cà phê trong bóng tối.
Bỗng một tiếng thất thanh "Ma!..." khiến mọi người dựng đứng tóc gáy. Cũng may đều là cánh đàn ông cả. Khi chủ quán thay đèn và không khí đã trở lại yên ổn cùng với ánh sáng, mọi người xúm quanh ông chủ hàng xén, người đã kêu thấy ma. Mặt ông vẫn còn tái xanh. Ông trỏ về phía bức tranh:
- Tôi thấy nó bay lập lòe ở đây... Một con, hai con rồi hàng chục con nhảy múa.
Ông rùng mình tợp một hơi rượu mạnh và yêu cầu thêm một ly nữa. Một khách đùa dai "Hay bố mày say rượu, thần hồn nát thần tính!"
Một ngọn gió chướng lại nổi lên làm chiếc đèn chao đảo, chao đảo rồi phụt tắt. Lần này đến lượt ông khách đùa dai hét lên:
- Cứu tôi với, cứu tôi với! Ma! Ma!
Đèn lại được thắp sáng. Mọi người đến gần bức tranh. Trên mặt toan ám bụi, những chấm mầu sù sì lung linh đỏ dưới ngọn đèn bị gió thổi lắc lư nom càng ma quái.
Hôm sau người ta được tin Van Gốc nằm tại một nhà thương điên gần đó đã bắn vào ngực tự sát và qua đời đúng lúc trận gió chướng ùa vào quán cà phê.
*
Giăng lúc này đã là chủ tiệm cà phê, bàn với vợ cho bức tranh ma quỷ kia vào lò đốt. Nhưng vợ Giăng không nghe:
- Vải còn tốt lại phủ một lớp sơn dày không thấm nước, để che chuồng gà cũng được, tội gì lại đem đốt.
Sau một hồi bàn bạc, hai vợ chồng thấy tiện nhất là đem cất tạm bức tranh vào phòng bà Xêlextin.
Vợ Giăng nhún vai:
- Bà cụ cũng sắp ra ma rồi, nó có về rước đi cũng chẳng sao!
*
Sau khi Van Gốc bỏ thị trấn đi được mấy ngày thì bà Xêlextin bị một cơn tai biến não và nằm liệt giường đã hơn nửa năm.
Tuổi già là một gánh nặng. Lại còn nằm đấy thì đúng là một tội nợ cho con cháu, thử thách lòng kiên nhẫn và hiếu thảo của chúng. Giá như sau khi liệt độ một tháng mà bà vui lòng qua đời thì có thể là vợ chồng Giăng cũng rỏ những giọt nước mắt thương mẹ một cách thành thật. Nhưng bà Xêlextin không biết điều. Bà sống quá hạn cho phép của lòng biết ơn. Liệt nhưng bà "có liệt ăn liệt đái ỉa đâu, ai mà dọn mãi được?"
Bà Xêlextin vô tình đã trở thành một đứa trẻ sơ sinh trong tay một mụ dì ghẻ ác nghiệt.
"Người ta còn bận hàng trăm thứ ai có thời giờ đâu mà chăm sóc bà mãi được."
Không gì ái ngại bằng cảnh một đứa con trai râu ria tắm cho một bà mẹ già. Nó lóng ngóng, nó vụng về, nó làm sao ấy. Có lẽ chính vì thế mà sau một hai lần cố gắng làm việc báo hiếu này, Giăng đã "quên" nó đi. Bà Xêlextin muốn chết. Nhưng chết nhiều khi cũng khó lắm, khó lắm.
Lấy lý do bà "ăn nhiều lại ỉa nhiều", vợ chồng Giăng rút khẩu phần ăn của bà xuống một bữa. Mà một bữa cũng hạn chế. Bà tuy liệt và không nói được nhưng óc bà chưa liệt hẳn. Bà vẫn hiểu và chứng kiến một cách bất lực sự tàn tạ của mình. Mắt bà suốt ngày cầu khẩn van xin. Nhưng trong cuộc sống ồn ào này, quát tháo, nguyền rủa ầm ĩ hay vật nài đến mỏi miệng còn chẳng ăn ai, huống hồ là nói một cách thầm lặng bằng mắt.
Đêm lạnh và cô đơn. Gió xì xồ một ngoại ngữ quái dị. Chúa thì ở xa và có lẽ cũng cô đơn như bà. Hai người gần bà nhất là vợ chồng Giăng thì sau khi hoàn thành bổn phận duy trì nòi giống đã ôm nhau ngủ say. Bà kêu cứu ú ớ không thành tiếng.
Bà bỗng thấy những đốm lửa lập lòe từ bức tranh phía tường đối diện.
Có phải người họa sĩ điên đã nghe tiếng kêu cứu câm của bà. Cả một cánh đồng hoa mào gà rực lên dưới ánh nắng..., không phải, có lẽ đó là ánh trăng thì đúng hơn. Bà mặc một chiếc váy mới chấm đỏ, tóc bà tết một con bướm đỏ. Bà vừa tung tăng vừa hát. Bà đang tràn trề dậy thì và biết mình đẹp. Tiếng sáo, tiếng trống rộn ràng. Đám con gái làng váy đỏ trong hoa đỏ. Điệu Pharăngđôn nhộn nhịp quá. Bà nhúc nhắc chân, cả người rạo rực, bà phải đi nhanh đến đồng hoa đỏ cho kịp. Người ấy đã hẹn bà.
Ôi! cái chập môi đầu tiên. Hai người ôm lấy nhau, quấn lấy nhau giữa một đồng hoa lửa. Bà bỗng kêu thét lên. Cả trời hoa cả đồng sao chao đảo bồng bềnh như sắp bước vào một ngày sáng thế. Bà rướn người, nhắm mắt lại trong một hạnh phúc tuyệt vời.
Hôm sau, khi nghe tiếng chồng gọi thất thanh trong phòng bà Xêlextin, vợ Giăng te tái chạy tới. Hai người trố mắt nhìn bà cụ gục đầu vào bức tranh lìa đời, miệng còn chưa tắt một nụ cười.
Vợ Giăng run run:
- Làm thế nào bà cụ liệt còn bò được đến chỗ bức tranh. Giăng làm dấu chữ thập.
- Đúng là bức tranh có ma!
Hậu từ
Bức tranh "Cánh đồng hoa mào gà" nghe đâu công ty Christie bán đấu giá 12 triệu đô vào những năm 70.
L.Đ
(TCSH63/05-1994)