Thứ năm, 09.09.2010
TÌM KIẾM
Tin nổi bật
Khai mạc phòng trưng bày tranh, hoa sen giấy và chương trình Vu Lan
Bế mạc trại sáng tác “Về nguồn”
Đêm thơ “Viết sử nước mình trên mặt đất”
Đại hội Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế lần thứ XI, nhiệm kỳ 2010 - 2015
Đại hội Hội Âm nhạc Thừa Thiên Huế khóa XI, nhiệm kỳ 2010 -2015
Gala Tinh Hoa- Sông Hương: Tôn vinh NXB âm nhạc chuyên nghiệp đầu tiên ở Việt Nam
THỂ LỆ CUỘC THI THƠ LỤC BÁT NĂM 2010
Thông tin tòa soạn
Phê bình lý luận
Trò chuyện với Thái Doãn Hiểu - tác giả Thi nhân Việt Nam hiện đại
Bài viết được đăng lúc 9:31:04 AM, 15.07.2008

NHỤY  NGUYÊN thực hiện

LTS: Bạn đọc yêu thơ trên cả nước rồi sẽ được chạm tay vào bộ sách hoành tráng bậc nhất về nền thi ca Việt hiện đại. Tác giả của nó, không ai khác, chính là nhà nghiên cứu & phê bình văn học Thái Doãn Hiểu. Trong chuyến thăm thú cố đô Huế nhân dịp Festival 2008 vừa qua, ông ghé thăm Tạp chí Sông Hương; và tại đây, phóng viên Nhụy Nguyên đã có cuộc trò chuyện cởi mở cùng ông chung quanh bộ trường thiên THI NHÂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI này.


NHỤY NGUYÊN (NN): Là tác giả của 18 công trình khảo cứu văn hóa sáng giá, thưa ông Thái Doãn Hiểu, những người thơ đang nóng lòng chờ mong bộ sách mới của ông.
THÁI DOÃN HIỂU (TDH): Trên cơ bản THI NHÂN VIỆT NAM HIỆN ĐẠI (TNVNHĐ) đã hoàn tất. 152 chương sách - 152 nhà thơ đã được dựng thành chân dung văn học. Đội ngũ đông đảo đó đã tạo nên bức tranh hoành trán
g về nền thơ Việt Nam hiện đại nửa cuối thế kỷ XX.
NN
: Phải chăng đó là công việc tổng kết nền thơ Việt đương đại do cá nhân đảm nhiệm?
TDH. Không dám. Tôi không có tham vọng lớn thế. Đó là công việc của Viện Văn học và nhiều nhà nghiên cứu cùng chung lưng đấu cật mới làm nổi.
NN: Một bộ sách đồ sộ như vậy chắc hẳn phải mất rất nhiều
tâm sức thời gian, tiền bạc đổ vào đó?
- TDH: Mất tất cả 17 năm ròng lao động cật lực. Phải đầu tư lớn. Đầu tư chủ yếu là ý chí, phải có cái đầu lạnh và một quả tim nóng mới đương đầu nổi với việc đội đá vá trời! (Cười).
Để làm bộ sách ruột này, cùng với ba công trình phụ (Thơ tình bốn phương, Ngàn năm thơ tứ tuyệt, Những kiệt tác thơ Việt Nam), tôi đã đọc không dưới một vạn tập thơ! Hàng mấy ngàn nhà thơ đã đọc qua! Hơn 800 nhà thơ phải theo dõi và cập nhật thường xuyên trong máy tính. Có nhiều lần bộ nhớ máy tính “đình công” vì quá tải. Chương mở đầu được động bút khởi thảo ở Chợ Lớn năm 1989, chương kết thúc viết ở Sydney, những tháng hè nghỉ ngơi và dưỡng bệnh ở Nam bán cầu cuối năm 2006. Toàn bộ công trình dài ngót nghét 4.000 trang khổ 15,5 x 20,5 cm. Trong đó 2.200 trang tiểu luận và 1.800 trang tuyển thơ. Tôi đã thay đến bộ máy tính thứ ba, thay máy in lase thứ 2, hủy hàng dăm chục ram giấy. Sách có thể in được rồi, tuy còn phải sửa chữa chút ít. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và cả nhà thơ Nguyễn Khắc Thạch rất vui gợi ý nên in thành ba tập thượng, trung, hạ theo lối hàn lâm, nhưng nhà xuất bản và phát hành sách lại yêu cầu in thành 12 tập.
NN: Chà, ghê quá! Tôi không rõ, ông đã lấy gì sống trong suốt 17 năm “ăn cơm nhà vác… ngà voi” ấy?
TDH: Tôi sống bằng lương  hưu nhà giáo và… tình yêu đối với công việc!

NN: Chắc ông giỡn chơi, chứ một Phó Thường Dân như ông lấy tiền đâu mà khi thì nghe tin ông bà thăm nước này nước nọ hoài; mới vi vu ở miền Bắc xong, bây giờ lại ở Huế?
TDH: (Tủm tỉm) Xin đành bật mí: Tôi làm Giám đốc một công ty phần mềm tin học lấy tên là 3Tgroup đã chục năm nay. Công ty tôi chuyên viết phần mềm để quản lý sản xuất cho các nhà máy. Nói thế nào cho bạn hiểu được đây nhỉ? Các phần mềm ấy cung cấp cho các nhà máy một bộ óc điện tử vươn rộng tầm kiểm soát để chỉ huy nhà máy sản xuất bằng tự động hóa. Ông giám đốc ngồi ở bất cứ nơi nào trên hành tinh vẫn có thể điều khiển nhà máy của mình như ngồi ở nhà. Khách hàng của công ty tôi là các nhà máy Nhật Bản, Úc, Thái Lan, Việt Nam đặt ở các khu chế xuất Biên Hòa, Bình Dương, Tân Thuận… đã mở rộng thị phần ra đến Hà Nội. Làm sách là nghiệp để nuôi hồn, còn làm nghề tin học bán các sản phẩm chất xám là để nuôi thân. Lấy phần mềm nuôi phần cứng! (gương mặt ông trở nên dí dỏm). Thân có no đủ thì hồn mới bay bổng được, phải vậy không, bạn?
NN: Chí lý. Ta trở lại vấn đề nhé. Thưa ông, bộ sách có tên Thi nhân Việt Nam hiện đại. Phải chăng nó là sự nối tiếp công việc của Hoài Thanh - Hoài Chân?
TDH: Đúng vậy. Chuyện là thế này: Trong phút lâm chung trên giường bệnh, ông Hoài Thanh nói với con trai là Nhà văn Từ Sơn “Đời ba, người ta gọi ba là Nhà văn vì ba có Thi nhân Việt Nam. Bấy lâu nay, ba cũng đã chuẩn bị tư liệu để làm một cuốn Thi nhân Việt Nam 2, nhưng lực bất tòng tâm, giờ ba phải đi rồi! Ba rất ân hận là đã không làm trọn được ước vọng”. Tôi thật sự mủi lòng thương cảm trước cảnh tử biệt sinh ly của người đồng hương rất đáng kính ấy, lòng tự nhủ lòng rằng: Nếu Nhà nghiên cứu Từ Sơn, hay cả ông nghè Phan Hồng Giang nữa không làm nổi di huấn này của cha, thì tôi xin tình nguyện ghé vai gánh vác công việc khó khăn này.
Thế rồi, tôi âm thầm thu gom tập kết vật liệu để chuẩn bị xây nhà lớn. Trong bộ Giai thoại nhà văn Việt Nam, KHXH xuất bản năm 1996, trong chương Hoài Thanh, tôi đã có lời nhắn nhe tới các anh ấy.
NN: Khi viết nối tác phẩm, ông xử lí thế nào đối với các nhà thơ Mới có mặt trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân?
TDH: Trừ các nhà thơ đã rơi rụng, các nhà thơ như Hàn Mặc Tử, Bích Khê chết sớm, và nhà thơ ngưng làm thơ như Huy Thông, Thế Lữ, còn các nhà thơ sống và viết vắt qua hai thời kỳ tiền chiến như: Tế Hanh, Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Quách Tấn, Đoàn Văn Cừ… thì đều phải viết lại hết. Một số nhà thơ bị bỏ sót như Ngân Giang đã được khôi phục vị trí xứng đáng. Chúng tôi đã trả lại những gì của Xêda cho Xêda ở nhà thơ kỳ tài Cầm Giang bị đời quên lãng…
NN: Theo chỗ tôi được biết, công trình Thi Nhân Việt Nam, Hoài Chân chỉ làm cái việc khá đơn giản là tập hợp thơ mới cho cụ Hoài Thanh… Vậy, ông có thể "trích ngang lý lịch" người đồng tác giả của TNVNHĐ?
TDH: Bạn muốn nói đến Hoàng Liên?
Bà ấy là nửa mảnh của mình. Tôi nhặt được “bả” ở cầu Cấm - một trọng điểm giao thông chiến lược đầy bom đạn trên con đường xuyên Việt (cách Vinh 18 cây số về phía Bắc) trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ năm 1967. Hồi ấy, cả hai chúng tôi đều là chiến sĩ Thanh niên xung phong trong binh chủng… cuốc vót, lăn lộn suốt 5 năm trời trên các tuyến lửa khu IV “vì sự sống của con đường” như tên cuốn sách đầu đời anh Nguyễn Khắc Phê. Thép đã tôi trong lửa đỏ và nước lạnh, chúng tôi đã luyện mình như thế.
Sau khi đã thua ý chí gã điên hiến mình làm con mọt sách, bà ấy tự nguyện làm bến đỗ cho tôi - cho kẻ gàn quải trời ơi đất hỡi. Sức chịu đựng ông chồng đồ Nghệ hâm tỉ độ, toàn đưa gai góc và tai bay vạ gió về hành tội sống vợ con phải nói là phi thường! Chúng tôi cùng dạy học chung, viết sách chung, nuôi dạy con thành danh (3 ông nghè). Trong TNVNHĐ, Hoàng Liên tham gia lo cho khâu tư liệu và đọc thẩm định cuối cùng như một trợ lý đặc biệt trước khi bản thảo xuất xưởng. Bà ấy là gián quan, là cái thắng (phanh) khá bực mình nhưng lợi hại của tôi. Bà ấy còn là bảo mẫu khắt khe, đầy yêu thương của mình về mọi mặt, nhất là sức khỏe và đời sống. Tóm lại, nếu không có Hoàng Liên thì khó có Thái Doãn Hiểu chứ đừng nói gì đến có TNVNHĐ!
NN: Ra vậy. Thú vị quá! Xin được tiếp tục hỏi ông: "Cú hích đầu tiên của thượng đế" là Hoài Thanh để ông bà viết TNVNHĐ, thế còn động lực nào khác nữa không?
TDH: Khi bước vào làm sách, tôi có ba thuận lợi: 1. Cũng như Hoài Thanh, tôi là nhà giáo dạy văn học cổ điển nên có thời gian và khi viết xong thì có nơi thử là giảng đường và sinh viên; 2. Tôi yêu thơ từ hồi còn trai trẻ và có một bộ nhớ khá siêu, chứa đầy ắp thơ ca; 3. Thơ Việt Nam được mùa, có nhiều nhà thơ sáng giá.
Khi sách in ra tôi sẽ ghi lời đề tặng hai người ở trang nhất:
1 - Kính dâng hương hồn cụ Hoài Thanh - ông tổ phê bình văn học Trường phái Hoài Thanh. (Tôi nghĩ không có một tưởng niệm nào thiết thực hơn là thực hiện được hoài vọng mà tiền nhân dang dở).
2 - Thân mến tặng PhD Thái Doãn Hoàng Cầu, để kỷ niệm cuộc chạy maratông học thuật - Thầy chiến bại tặng trò chiến thắng.
NN: Được biết, anh con trai trưởng viết luận văn tiến sĩ khoa học ngành điện đ
ua với cha mẹ viết Thi nhân. Ông bà thua! Vì sao vậy?
TDH: Vì phải mang vác một kho thơ trên lưng cồng kềnh nên rùa tôi về đích quá chậm.
NN: Ồ… ông quả dí dỏm… Hoài Thanh được giới học thuật đánh giá là Nhà phê bình văn học thiên tài, còn Thi nhân Việt Nam của người được đánh giá là kiệt tác. Ông có sợ không khi dám “nối điêu” vào kiệt tác của thiên tài?
TDH: Sợ chứ. Nhưng rất nhiều thích thú và một chút tò mò kích thích nữa.
Tôi nghĩ đã cầm bút là phải có tinh thần khoa học tiến công vượt người xưa. Nếu có thành công thì đó cũng là chuyện thường tình, con hơn cha là nhà có phúc? Khi bắt tay vào việc, tôi đã lượng sức mình và đã chuẩn bị kỹ hành trang để làm công việc nhọc nhằn và kỳ thú đó. Như nghệ sĩ dương cầm, tôi chỉ thật sự hạnh phúc khi hàng ngày được ngồi trước máy tính và gõ phím. Tôi dựng tượng đài cho các nhà thơ là một nhẽ, nhưng mục tiêu cơ bản là thông qua đó để giải tỏa những ẩn ức trước cuộc đời mà tôi nợ nần quá lớn!
NN: Ẩn ức trước cuộc đời là món nợ không dễ trả; còn để giải tỏa nó, e không mấy ai đủ bản lãnh… Thưa ông, hồi còn học phổ thông tôi đã mê Thi Nhân Việt Nam rồi, và cho tới bây giờ vẫn còn nhớ những dòng nhận định về thời Thơ Mới, về tác giả Thơ Mới - như được đúc ra từ khuôn mẫu của một bộ óc uyên bác. Vậy theo ông, khi bộ sách ra đời, nó có thể khiến cho độc giả, thậm chí là các nhà phê bình của chúng ta phải suy ngẫm lại sự nghiệp thi phú của các tác giả mà họ đã đọc, đã “phê”?
TDH: Cũng có thể. Nhưng thường thì các nhà nghiên cứu đều có cách tiếp cận và đánh giá tác phẩm văn học khác nhau, làm sao người này lại giống người kia được. Chỉ có hai mắt nên tôi cũng chỉ nhìn được có một góc. Trên cánh đồng được mùa thơ Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX, phải có hàng chục nhân công mới thu hoạch hết. Chúng tôi chỉ là 2 thợ gặt trong đám ấy thôi.
NN: Nói vậy là có phần khiêm tốn. Theo tôi ông đủ tư cách để đánh giá, phân loại đẳng cấp các nhà thơ Việt Nam; cao hơn thế là cả nền thơ Việt Nam hiện đại.
TDH: Tổn thọ! Chỉ đơn giản là tôi thích thơ thôi. Tôi thích thơ nên yêu các nhà thơ. Mỗi lớp nhà thơ đều có những tính cách rất riêng và độc đáo. Tôi đã chọn nét cá tính đặc sắc nổi bật nhất ở họ để khai thác. Ví dụ: Chuyện “nổi loạn” trong tình yêu của Đoàn Thị Lam Luyến, chất đánh đu qua dâu bể ở Thu Bồn, tấn bi kịch của một thiên tài trong Chế Lan Viên, nét tài hoa biến đá hóa vàng trong thi pháp Nguyễn Duy, quả tim làm chánh án trong thơ Nguyễn Hưng Hải, cung cách trọ hồn làng của Phạm Xuân Trường, cái đau đời từ tốn lay động lòng người bằng số phận nhân dân trong Trần Nhuận Minh, cách hóa giải cuộc sống đằm thắm của Hoàng Trần Cương, nỗi trắc ẩn thường dân lo nỗi kiếp làng của Nguyễn Long… Tôi thích thú khai thác cả chất chuyên ngành trong họ: Ở Hoàng Hữu là trong thơ có họa, ở Nguyễn Ngọc Oánh là chất… ngân hàng, ở Trịnh Công Sơn là chất nhân loại, chất nhạc; ở Điền Ngọc Phách là chất… thợ, ở Lê Quốc Hán là chất nhận đường của giới trí thức, ở Bùi Giáng là cái tỉnh của người điên, ở Nguyễn Khắc Thạch là sĩ khí đi chân trần trên lưỡi dao bén của sự thật, ở Huỳnh Hữu Võ là kẻ thích phân thân làm Tôn Hành giả, ở Minh Đức Triều Tâm Ảnh là những nghịch lý ngược chiều của thiền, ở Hồng Nhu là chút ngẫu hứng của nhà văn làm thơ, ở Nguyễn Trọng Tạo là chất lãng-tử-đồng-dao, ở Lê Đạt là chất phu chữ, ở Phạm Thiên Thư là tinh thần văn hóa dân tộc cực đoan, ở Hữu Loan là khí tiết cứng cỏi của kẻ sĩ thời nay, ở Xuân Diệu là chất ông hoàng của thơ tình phương Đông Chính những nét độc đáo đó đã khu biệt họ với các nhà thơ khác và cách thức làm cho bộ sách không nặng nề ra bởi sự trùng lặp. Điều này cũng giải thích tại sao, phần lớn các nhà thơ nhận được bài khi tôi thảo xong về họ đều thảng thốt kêu lên "Sao anh hiểu tôi hơn cả tôi thế vậy!" (Hoàng Vũ Thuật).
NN: Để cô rút được những giá trị độc đáo từ "ruột" các thi nhân như thế, ngoài cái cách thông thường là đọc tác phẩm, hẳn ông thường "nối mạng" với tác giả…?
TDH: Internet is… công cụ tuyệt vời. Tôi tiếp xúc nhiều với họ qua các văn bản tập thơ là chính, kể cả những nhà thơ tôi không tuyển vào TNVNHĐ. Nhìn chung ở họ:

- Người thật sự giỏi thơ thì rất khiêm tốn và mềm dịu.
- Người có chút tiếng tăm thì xem trời bằng vung.
- Người mới làm được vài cặp lục bát thì đúng như cách nói của Bùi Hoàng Tám, liền gọi Nguyễn Du bằng anh ngay!
Nhìn chung, đã vướng vào nghiệp thơ rồi thì ai cũng ngất ngưởng lên đồng xem mình là trung tâm của vũ trụ, không thèm đọc ai, không xem ai ra gì. Điều này là vật cản nguy hại cho con đường tiến của thơ!
Thực ra, trong làng thơ không phải là cá mè một lứa, có thứ bậc hẳn hoi, trên dưới rõ ràng. Xếp hạng họ không khó, nhưng chẳng ai làm cái công việc ngu ngốc ấy cả.  

NN: Ông vẫn chưa mấy đề cập đến nền thơ ca Việt Nam…?
TDH: (Gật đầu. Vẻ nghĩ suy…) Năm 1995, tôi đi điền dã một vòng 7 tỉnh miền Bắc. Đến Huế, tôi thấy có mười người dân thì có đến sáu người làm thơ. Ra Hà Nội đi đến các câu lạc bộ thơ đất Tràng An thấy có bao nhiêu cụ hưu thì có bấy nhiêu nhà thơ. Hơi “bị” nhiều, phải không? Đáng vui hay buồn? Vui chứ. Một dân tộc yêu thơ đến thế thì còn than vãn cái nỗi gì. Đó là lối chơi tao nhã, cách chơi thời thượng chẳng làm tổn hại ai, cũng như người ta chơi chim kiểng, chơi chó, chơi hoa,
chơi cá, thậm chí chơi… râu. Có điều chơi thơ khó nhất vì nó kén người. Tôi chỉ ái ngại khi thấy các cụ ông cụ bà chen vai thích cánh loay hoay trước chân cầu thang thơ có 10 bậc mà ít ai leo lên được bậc nào! Cả đời bận rộn với chiến tranh và mưu sinh, nay về hưu có chút thì giờ, làm thơ để thanh lọc mình thì có gì mà khích bác là lạm phát, cứ để các cụ tham gia cho vui cửa vui nhà. Còn thành tựu thơ đậu lại được mấy nả, có thể đếm được trên đầu ngón tay. Việc đó để các nhà lý luận phê bình lo và sắp xếp!
Một đất nước, xưa ra ngõ gặp anh hùng, nay ra ngõ toàn gặp các nhà thơ và tiến sĩ! Các nhà thơ đua nhau bỏ tiền ra in thơ mình cực kỳ sang trọng, chỉ để… tặng. Thơ phơi đầy trên các giá
kệ ở các siêu thị sách, ít ai mua. Nhưng thơ hay, có ích thì bạn đọc vẫn mua đọc kìn kìn. Xin lấy nhà thơ Trần Nhuận Minh làm tiêu điểm: Tập thơ Nhà thơ và Hoa cỏ trong vòng chục năm nay đã tái bản đến lần thứ 17, Bản xônat hoang dã mới ra 4 năm đã tái bản 4 lần, Tuyển tập thơ Trần Nhuận Minh đã được tái bản lần thứ 3, lần thứ 4 vừa in xong là song ngữ Việt - Anh… Công chúng đâu có quay lưng lại với thơ và nhà thơ? Chuyện này rất đáng cho các nhà thơ suy ngẫm. Trong lúc công chúng cần cơm, (thậm chí cơm nguội thôi) để đỡ đói lòng thì các nhà thơ lại đưa son môi Nhật, Hàn ra cho… Tôi muốn để Tạp chí Sông Hương in giùm cho toàn văn chương sách đầu tiên Trần Nhuận Minh là với ý giải thích cặn kẽ rốt ráo cơn đại khủng hoảng thừa của thơ Việt hiện nay.
NN: Hồi nãy ông có nói: xếp hạng nhà thơ là một việc ngu ngốc. Nhưng ít ra, trong cơn đại khủng hoảng thừa của nền thơ Việt Nam hiện đại mà ông đeo đuổi bấy lâu, ắt hẳn có thi hào, thi bá?
TDH: Có chứ. Ở phạm vi hẹp giữa chúng ta ngồi đây, tôi xin lấy thước đo quốc tế mà ướm thử, ta có các thi hào: Tố Hữu, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Tế Hanh, Hàn Mặc Tử.
Còn thi bá, ở mỗi thời kỳ lại nổi lên những cái đỉnh: Thế Lữ, Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hoàng Trung Thông, Quách Tấn, Thu Bồn, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa, Trần Mạnh Hảo, Hoàng Trần Cương, Trần Nhuận Minh…
Trong số này, ông Trạng nguyên thơ Nguyễn Bính sẽ sống thọ hơn cả nếu lấy ngàn năm làm đơn vị thước đo.
NN: Thế thì đứt đuôi con nòng nọc, ông chẳng hề bi quan trước nàng thơ khá kiều diễm song xem ra hơi đỏng đảnh?
TDH: Tôi là người lạc quan. Ta được mùa thơ ! Thơ Đường của Trung Quốc cho đến nay thế giới vẫn chưa có ai vượt được. Khởi thủy nó cũng rậm rạp lắm : 4 vạn 8 ngàn bài cộng thêm dăm ngàn bài mới tìm được sau này rốt cuộc cũng chỉ đọng lại nghìn bài Đường thi nhất thiên thủ, cô lại 300 bài Đường thi tam bách thủ. Việc đó là công lênh của các học giả đời sau.
Thơ hay và tác giả hay của ta cũng vậy, nó bị chìm lấp trong hàng núi thơ dở làm rối mắt người có máu bi quan. Vàng thau, đất cát lẫn lộn nhưng không sao, đâu sẽ vào đó cả thôi. Không còn cách nào khác, phải chịu khó kỳ công, phải đãi cát tìm vàng. Khốn nỗi đãi hàng tấn quặng mới may ra tìm nhặt được vài mắt trấu vàng, nâng niu cho vào lọ Nhị Thiên Đường, tích trữ lại, lâu lâu đầy thì đem đúc thành thỏi. Với cung cách đó, chúng tôi đã làm nên các công trình thơ của mình. Vâng, tôi là người lạc quan. Không lạc quan thì bới đâu ra cho được dăm bảy ngàn trang thơ cho bốn công trình!? Ông Tạo trên báo Nhà báo và Công luận tặng chúng tôi danh hiệu Người lưu danh cho thơ ca, nghe đã sướng. Thế mà báo Thanh Niên còn tôn vinh tặng cho cái tên nghe còn khoái hơn: Nhà kinh doanh thơ (cười vang), xứng đáng quá đi… tuy có sặc mùi thương mại thật. Chọn mặt hàng ế ẩm nhất mà những người phát hành sách cạch ra để kinh doanh thì đúng là một lão điên… thơ! Tôi rất thích thú đem in chức danh này vào tấm cạc.
NN: Xin lỗi, hồi nãy tôi đã "bỏ qua" một chi tiết...(xem tiếp phần 2)

 
Các tin mới hơn
Để hiểu hai câu hò cổ ở Bình Trị Thiên (3:23:55 PM, 07.09.2010)
Vài suy nghĩ về quá trình sinh thành của những tứ thơ (10:59:53 AM, 01.09.2010)
Nhìn theo cái nhìn Phong Lê (10:31:54 AM, 30.08.2010)
Tác dụng tích cực của cái “tiêu cực” trong tác phẩm văn nghệ (3:35:18 PM, 06.08.2010)
Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt (3:08:04 PM, 30.07.2010)
Mấy ghi nhận về những hài cốt của Tây Sơn trong nhà tù Khám Đường (3:51:07 PM, 16.07.2010)
Hòa giải và hóa giải ba loại nhà thơ hôm nay (3:20:54 PM, 13.07.2010)
Con đường văn học Việt Nam vào Hoa Kỳ: con đường từ trái tim (3:30:12 PM, 09.07.2010)
Nhìn từ năm 2009, một số “căn bệnh” văn chương (9:31:25 AM, 08.07.2010)
Từ bài thơ hậu hiện đại đến tâm thế thơ hôm nay (3:05:54 PM, 07.07.2010)
Văn xuôi Bình Trị Thiên những năm gần đây (11:01:39 AM, 05.07.2010)
Một vài suy nghĩ về thể ký (4:38:21 PM, 02.07.2010)
Tiểu thuyết lịch sử đương đại với quan niệm nghệ thuật về con người (3:46:47 PM, 01.07.2010)
Ám ảnh thời gian trong thơ Trương Đăng Dung (9:34:16 AM, 29.06.2010)
Cần sửa lại một thuật ngữ dịch sai trong lí luận và nghiên cứu văn học của ta (2:27:55 PM, 18.06.2010)
Tản mạn về phê bình văn học (9:50:42 AM, 14.06.2010)
Hình dung tiểu thuyết là gì? (3:11:36 PM, 10.06.2010)
Vài ý kiến về Công giáo với văn hóa Việt Nam (3:17:06 PM, 09.06.2010)
“Tôi đã nhìn thấy tuổi thanh xuân của thế giới” (4:02:25 PM, 01.06.2010)
Bài học lịch sử quý giá từ vè thất thủ kinh đô (2:57:13 PM, 28.05.2010)
 
Các tin cũ hơn
Trò chuyện với Thái Doãn Hiểu - tác giả Thi nhân Việt Nam hiện đại (9:10:42 AM, 15.07.2008)
Nguyễn Huy Thiệp - Đưa nhân vật vào lập trường đối thoại (3:27:55 PM, 10.07.2008)
Một số vấn đề về nghiên cứu và giảng dạy văn học Nhật Bản ở Việt Nam - từ góc nhìn tiếp nhận văn học (4:37:14 PM, 09.06.2008)
“Khai thác tối đa tiềm năng đội ngũ cán bộ văn học, nghệ thuật” (3:24:32 PM, 09.06.2008)
Hướng tiếp cận từ phân tâm học trong truyện ngắn việt nam sau 1975 (3:22:07 PM, 09.06.2008)
Roman Jakobson và thi pháp (3:45:39 PM, 06.06.2008)
Văn học như là tư duy về cái khả nhiên (11:48:02 AM, 06.06.2008)
Xin thận trọng khi đánh giá Khổng Tử (11:42:55 AM, 06.06.2008)
Truyện tiểu sử, một loại hình tự sự cần được khẳng định và phát triển (9:27:10 AM, 05.06.2008)
Sự “Phục hồi chủ quyền văn hóa của cá tính” trong truyện ngắn Xô Viết (9:02:20 AM, 05.06.2008)
Ngôn từ nghệ thuật - Một nét phong cách độc đáo của Nguyễn Tuân (3:50:06 PM, 04.06.2008)
Thời thơ mới bàn về thơ mới (3:09:19 PM, 03.06.2008)
Suy nghĩ về một vài truyện ngắn trên Tạp chí Sông Hương (11:09:47 AM, 03.06.2008)
Bàn về “Tính duy lý” của văn xuôi và “Tính phi lý” của thơ (9:20:45 AM, 03.06.2008)
Thảo luận về lý luận văn nghệ ở Trung Quốc thời kỳ mới (5:10:28 PM, 02.06.2008)
Nét văn hóa Việt Nam qua câu thơ quốc âm 6 tiếng của Nguyễn Trãi (4:26:11 PM, 02.06.2008)
Phê bình văn chương giải minh hay phá bĩnh (3:31:11 PM, 02.06.2008)
Một lối viết cực kỳ xảo trá (3:10:07 PM, 02.06.2008)
Giải thích câu Kiều 2168: “Vai năm tấc rộng thân mười thước cao” (4:32:58 PM, 30.05.2008)
Quan niệm về cái đẹp của phong trào "Thơ mới" 1932 - 1945 (11:11:15 AM, 30.05.2008)
 
 
Nhìn từ bến Vân Lâu
Sau khi phục dựng thành công lễ tế Nam Giao và lễ tế Xã Tắc trong những năm qua, thiết nghĩ việc tái hiện lễ tế Âm Hồn 23.5 ở quy mô thành phố/ tỉnh là một việc làm có ý nghĩa trong việc bảo tồn bản sắc văn hóa và quảng bá du lịch của thành phố Huế chúng ta.
Tạp chí Sông Hương
Quảng cáo